Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Nhắc đến sen, bạn sẽ nghĩ đến điều gì? Một loài hoa sinh ra ở nơi vũng bùn, đầm lầy nhưng vẫn kiên quyết mạnh mẽ đứng lên, mặc cho những vấy bẩn, vẫn “ rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, tỏa sáng và đẹp đẽ hơn bao giờ hết? Đúng là sen rất đẹp nhưng chẳng phải tự nhiên mà sen đẹp như thế, để có thể mạnh mẽ như vậy, búp sen đã phải lớn lên và vươn cao, nói không ngoa chính sự rèn rũa từ búp đã tạo nên vẻ đẹp không thể nhầm lẫn của sen. Nếu như sen là những bậc hiền tài thì búp sen sẽ là đứa trẻ tạo nên những bậc hiền tài đó và “Các bậc thiên tài không có sẵn. Chính truyền thống gia đình, quê hương là khởi thủy tạo nên những tính cách đầu tiên của mỗi con người và đi vào đời…”

Giống như một bông hoa sen, cao quý và thanh khiết, Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha già kính yêu của dân tộc, vị lãnh tụ vĩ đại luôn đặt đất nước lên trên hết, vì hai chữ quê hương mà sống, vì no ấm của hàng triệu người con mà quên đi bản thân mình. Người không ham một cuộc sống sung túc, người giỏi giang, giản dị, mạnh mẽ, kiên cường,…. Người luôn tỏa sáng với nhân cách cao đẹp, tư tưởng của Người, tình cảm lớn lao của Người luôn sống mãi trong người dân Việt Nam. Và cũng giống như một đóa sen, vẻ đẹp ấy không tự dưng mà có, nó được hun đúc từ búp, từ những ngày Bác còn thơ, rồi từng ngày, từng ngày trưởng thành, nó hoàn thiện dần và tạo nên một con người cứu sống cả một dân tộc.

Giới thiệu tên Bác trong từng giai đoạn

     1.     Tên khai sinh (tên sử dụng lúc nhỏ): Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Sinh Cung)

     2.     Tên tự (tên sử dụng trong thời niên thiếu): Nguyễn Tất Thành 

     3.     Tên Bác sử dụng trước khi tìm ra đi tìm đường cứu nước: Anh Ba

Thời thơ ấu

Nói các bạn có tin không, cũng giống như chúng ta, khi còn bé Bác cũng là một đứa trẻ nghịch ngợm, luôn ở trong lớp đầu têu những trò quậy phá. Trèo mái nhà phá tổ chim, trèo cây hái quả, ghẹo chó nhà hàng xóm, rủ cả lớp đang học đi câu cá,… tất cả những việc đó, Bác đều trải qua nhưng có lẽ chính nhờ những lần lỡ “ nghịch dại” ấy cùng một tuổi thơ đầy vất vả mà Bác trưởng thành. Suốt những năm tháng thơ ấu, thầy, u, anh, chị, bạn bè, hàng xóm, bà ngoại,vi sư, gì,…là những người gắn liền với Bác, họ chính là những tác động tích cực tạo nên nhân cách của một vĩ nhân lịch sử.


Trong số những người kể trên, có lẽ cha là người ảnh hưởng tới Bác nhiều nhất. Ông là một quan phó bảng, đỗ kì thi Hương. Dù làm quan nhưng cả đời ông luôn hướng tới một cuộc sống giản dị, tự do, tự tại, bốc thuốc cứu người, luôn vì hai chữ thanh liêm mà sống, tất cả vì nhân dân. Tuổi thơ của ông vốn cũng là một tuổi thơ nhiều biến động. Cha mẹ đều mất sớm, ở cùng với anh, may mắn được thầy mình nhận nuôi sau lại gả con gái lớn cho, ông luôn chăm chỉ học tập, đi thi nhưng không phải để làm quan, học tập để cứu giúp con người. Ông luôn sống liêm minh, chính trực. Mặc dù gia cảnh rất bình thường, được thưởng đất vì đỗ tú tài, ông cũng chỉ lấy một ít, còn lại chia hết cho nhân dân. Ông chẳng bao giờ tự cao, sống hòa đồng cùng bà con, chòm xóm. Ông luôn răn dạy các con của mình phải chăm chỉ đọc sách bởi sách là nhãn tự. Đối với những trò nghịch ngợm của đứa trẻ Nguyễn Sinh Côn, ông nghiêm khắc nhưng cũng dịu dàng giải thích lí lẽ cho con hiểu thấu. Ông dạy con thật nhiều mà hi vọng vào con lại càng lớn, hi vọng vào con đường con đi, hi vọng rằng con sẽ thay cha thực hiện ước nguyện mà ông đã bỏ lỡ. Chính nhân cách cao đẹp của ông đã tác động lớn đến con người của Bác.

Con đã thuộc bài, các bạn của con chưa thuộc mà con rủ bạn đi câu cá là phạm lỗi. Cái lỗi ấy là: con chỉ thấy phần mình đã xong, không nghĩ đến phần người khác, như vậy là ích kỷ. Con đã rõ chưa?

Côn! Vì đang ở trên đường, nếu ở nhà thì cha bắt con nằm xuống đánh mười roi vì tội bất đễ. Anh con có nói sai, xử sự sai với con  thì đã có cha phân xử, hoặc con phải nói với anh bằng một thái độ lễ phép. Con không được nói với anh câu nói của nhà vô giáo dục như vậy. Con khoanh tay xin lỗi anh đi con.

Sự suy nghĩ của con cũng giống sự suy nghĩ của cha về công cuộc cứu nước cứu dân. Người xoay chuyển được cuộc thế có lẽ… lớp các con chứ lớp ông nghè, ông cử như cha không gánh nổi đâu. Âu đành… Mặc khách tâm minh Chung Sơn thạch, bất bình sự phó Cả giang lưu.

Không chỉ cha, mẹ cũng là người có ảnh hưởng không nhỏ đến Bác. Bà là một người phụ nữ luôn hết lòng ủng hộ, thương yêu, hi sinh vì chồng con. Bà không quản ngại làm đồng vất vả nuôi chồng học, âm thầm đứng đằng sau, ủng hộ cho sự nghiệp của chồng. Nuôi con từ những lời ru à ơi, bà luôn dạy các con rằng “Chữ là mắt. Người không có chữ coi như người mù ở thế gian”. Nếu như cha là người dạy bé Côn kiến thức vào đời, rèn luyện cho Côn những đức tính cao đẹp thì mẹ chính là người bồi đắp cho Côn một trái tim đầy tình thương. Tuy ra đi ở tuổi đời vẫn còn trẻ nhưng những gì bà mang đến cho Côn không chỉ là một tình mẫu tử thiêng liêng, mà còn là nhân cách, những bài học làm người giá trị, hoàn thiện nên một tâm hồn vĩ đại.

Bên cạnh cha mẹ, xung quanh Côn còn thật nhiều những con người đáng quý. Họ là anh chị, bà ngoại, bạn bè, hàng xóm,… Đó là những con người không có nhiều quyền thế nhưng hết mực yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Chính họ cũng tác động một phần không nhỏ vào cuộc đời của bé Côn. Ở họ, ta có thể thấy cái gọi là tình bạn, cái gọi là tình chòm xóm “tối lửa tắt đèn có nhau”,… để từ đó ta thêm yêu con người, ta tin tưởng nhiều hơn về tình nhân ái.

      -   Tội nghiệp bà cử! Cha con ông cử vẫn chưa về

      -   Tội nghiệp thân anh em bé Côn! Mệ chết mà chẳng có một ai thân thích ở gần!

     -   Giữa lúc năm hết, tết đến mà mệ chết, cha vắng nhà, ở giữa đất khách quê người này, liệu anh em bé Côn sẽ sống ra sao đây?

      -   Vậy ra… ông bà cử nghệ không có ai là người ruột thịt ở miệt ni à?

      -   Chẳng có một người nào cả.

      -   Vậy thì, chị em xa, ta là láng giềng gần, mỗi người một tay để đưa bà cử về nơi an nghỉ cuối cùng.

Trong tác phẩm, ta cũng có thể thấy sự hiện diện của những nhà hoạt động cách mạng, họ là bạn của cha Côn. Có lẽ chính nhờ sự xuất hiện sớm của những con người ấy mà từ nhỏ, Côn đã được tiếp xúc với những con đường cứu nước để từ đó ngẫm nghĩ và có suy nghĩ trưởng thành hơn tuổi.

Tuy yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lớn tới con người và nhân cách Bác nhưng nó chưa đủ, yếu tố chính tạo nên một vĩ nhân lịch sử sau này nằm ở chính sự nghị lực và kiên cường trong Bác. Những năm tháng ấu thơ, tuy nghịch nhưng Côn rất chăm chỉ, chịu khó, biết nghe lời, yêu thương mọi người và lập trường quan điểm chín chắn. Không khó để nhìn thấy sự nghị lực của Bác trong những ngày tháng vô cùng khó khăn, mẹ mất, một mình nuôi em, theo cha sống xa quê từ những ngày bé,…Bác luôn không ngừng học hỏi với một trái tim đầy yêu thương để từ đó tự trưởng thành và sống với nhân cách đáng ngưỡng mộ, giống như cái tên của mình, trở thành “ loài cá hóa chim bằng”.

Với cái tuổi lên mười, Côn đã phải nấu cháo, sắc thuốc, chăm sóc bệnh tình của mẹ. Hằng ngày, Côn còn phải bế em sang hàng xóm xin những bà mẹ đang nuôi con thơ cho em được bú nhờ.

Cái cảm giác sợ hãi đã bay biến khi nỗi cô đơn bao trùm lấy tâm trí Côn lúc cả kinh thành bay lên theo tiếng pháo giao thừa. Côn phải dỗ em bằng kẹo, bánh của các bạn đến cho. Tuy em Xin chưa biết nói, Côn vẫn trò chuyện với em như nó đã tiếp nhận được mọi điều…

Thời niên thiếu

Thời niên thiếu của Bác là những ngày tháng sống ở kinh thành Huế, học tập tại đây, sau đó trở thành thấy giáo ở Phan Thiết rồi chuyển vào Sài Gòn.


Bắt đầu từ những ngày sửa soạn theo cha lên đường vào kinh đô Huế lần hai. Cùng với cha và anh , Côn bận rộn chuẩn bị mọi thứ để tạm biệt mọi người. Sự xa quê lần này của ba cha con diễn ra trong những lời thân thương của mọi người nơi quê nhà

Ba cha con phó bảng Sắc bước từng bước bin rịn, chốc chốc ngoái về phía sau. Những người thân và dân làng đi tiễn đứng rải rác dưới bóng tre nhìn theo cha con ông đang đi xa dần.

Họ sống ở nhờ nhà người bạn, trên đường đi, với lối suy nghĩ của những người từng trải, cậu bé Côn năm nào giờ được gọi với cái tên Tất Thành chiêm nghiệm được nhiều thứ:

…Bên tai anh văng vẳng lời ca mà anh thuộc từ nhiều năm trước:

Nước Nam ta sao lại có Tây

…Tất Thành cảm thấy ở đất “ thần kinh” này đang có một sự chuyển động âm ỉ ở bên trong,…

Ở nhờ nhà bạn cha, Tất Thành tỏ rõ mình là một con người được giáo dục tử tế với phong cách và kinh nghiệm sống đáng học hỏi.

Bữa cơm khách đầu tiên, ăn xong Thành tự đi lấy tăm đặt lên miệng chén trà cho từng người. Thành thu dọn bát đĩa và đi rửa….

Đến ở ngày hôm trước, hôm sau Thành đã đi chợ đong gạo, mua thức ăn. Thành biết rành từng loại cơm ở chợ Đông Ba như gạo lốc dâu, gạo chăm, gạo té, gạo hẻo…

Với những tư tưởng sống tiến bộ “…Muốn biết rõ cội nguồn của người Tây là thế nào thì phải biết chữ của họ, tiếng nói của họ, nền văn minh của họ. Và càng không thể bỏ qua việc học loại chữ mới…”, Tất Thành đăng kí học vào trường Đông Ba. Ở đây, Thành gặp lại những người bạn cũ đã không quản ngại khó khăn giúp đỡ mình năm xưa. Cùng với bạn của mình, trong một lần nhân dân ta nổ ra biểu tình, Thành đi trong đội ngũ những người đấu tranh đòi quyền sống. Giữa biển người ào ạt, Thành thấy một người trạc tuổi anh bị thương nặng, anh chẳng kịp suy tính mà cứu lấy người đó. Sau này, chính người ấy lại trở thành một người anh em cùng Tất Thành trải qua tuổi hai mươi. Sau cuộc nổi dậy đó, Tất Thành bị cảnh sát săn đuổi, anh đã có thể trở lại trường học nhưng không, để lại cái danh người học trò xuất sắc, anh đã ra đi, ra đi theo tiếng gọi của con tim, ra đi để viết lên trang sử mới.

Dấu chân Nguyễn Tất Thành in xuống cực nam trung bộ. Nghe theo lời cha, anh đến dạy ở trường Dục Thanh. Ở đây anh hết lòng chỉ dạy cho những học trò nhỏ, lại không ngại giúp đỡ những em gặp khó khăn. Tuy chỉ ở lại một thời gian nhưng ấn tượng và bài học mà anh để lại trong lòng học sinh là những điều quý giá không phải ai cũng làm được. Các bạn còn nhớ người mà Bác đã cứu khi tham gia biểu tình không, đó là anh Tư Lê và đây chính là khoảng thời gian anh gặp lại người đó. Nhờ gặp được Tư Lê, Nguyễn Tất Thành lại một lần nữa ra đi, vào trong nam, đi tìm con đường giải cứu đất nước, thực hiện chí lớn của bản thân mà cũng là kì vọng mà cha anh để lại:

Cha tưởng con đi theo cha thì đáng buồn. Con phải tự tìm ra cho mình một hướng đi, một con đường. Đời cha không có con đường chỉ có một ngõ cụt. Cha đã không làm được điều mà mình hằng ước nguyện: vì Tổ quốc mà ngã giữa trận tiền, vì công bằng mà rơi đầu trước đám cường quyền bạo ngược… Con cứ mạnh dạn làm, một khi lòng đã quyết…

Anh ra đi lặng lẽ, chỉ để lại một lá thư xin lỗi cùng lời nhắn gửi tới các học trò nhỏ. Chí lớn của anh mang tên “ Hồn nước gọi chúng ta lên phía trước!”.

Tuổi hai mươi


Theo chân Tư Lê, anh Ba đến Sài Gòn. Nơi đây anh gặp được cụ già Đờn, cô Út – con gái ông và những người bạn ở xóm chợ. Anh không ngại khó, không ngại khổ, tự nguyện làm nghề phu vất vả chỉ để tìm được hướng đi ra một phương trời khác thực hiện ước mơ lớn. Tương lai anh tìm kiếm nhưng không vì lẽ đó mà bỏ quên thực tại, quên đi những con người đang nhiệt thành giúp đỡ mình hoàn thành ước mơ. Anh mở lớp dạy học, nơi mà “ Chữ anh Ba  thắp sáng lên trong trái tim những người thợ.”, thương cô Út không có khăn buộc tóc, anh ghé vào tiệm tạp hóa mua cho cô; thương ông già Đờn mỗi lần lên dây nhị phải lựa lựa đoạn day tơ không có nút nối và cái cần rung đã nứt dọc, anh mua thêm một bộ dây nhị và cái vĩ; anh mua thêm cả hai chai Cô-nhắc cho anh em xóm thợ;… Đó là những món quà anh dành tặng cho những người anh biết ơn trước khi người ra đi tìm đường cứu nước.

Trong những thời gian làm thợ, anh biết đến tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, anh đăng kí một chân làm bồi tàu. Trước ki đi, anh hỏi bạn mình – anh Tư Lê về việc đi cùng anh và chắc hẳn mọi người còn nhớ đúng không, câu nói nổi tiếng của Bác khi được anh Tư Lê hỏi tiền đâu mà đi.

Đây, - anh Ba giọng cương quyết, chìa hai tay ra giữa bóng đêm – tiền đây. Chúng ta sống bằng bàn tay, bằng cái đầu của chúng ta.

Trước khi đi, anh không quên đến tìm gặp cha, người đã truyền dạy anh thật nhiều thứ. Cuộc chia tay lúc này đây trở nên thật ngột ngạt và bi thương bởi trong hai người họ, ai biết, đây có phải lần cuối gặp nhau?

Anh Ba lau nước mắt, đỡ lấy tay cha, anh thốt lên:

-     Cha!

Ông phó bảng ngăn lại:

-      Đừng! Con đừng gọi cha lúc này! Con phải gọi Tổ quốc! Đồng bào! Đi…đi con!

Ngày 5/6/1911, Người ra đi tìm đường cứu nước, trên con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, mở đường cho một hành trình dài đầy gian khổ nhưng vinh quang. Con tàu rẽ sóng, rẽ ra một tương lai mới cho dân tộc, quê hương.

Lúc này đây, búp sen xanh không còn chỉ là một đứa trẻ trên con đường trưởng thành nữa mà búp sen xanh còn là cái nôi, là tiếng gọi quê hương, là một thời để nhớ, thúc giục con người ta hướng về tương lai. Đó là nguồn cội của một vĩ nhân lịch sử.


Tác giả: Hama - Bookademy

----------

Theo dõi fanpage của Bookademy để cập nhật các thông tin thú vị về sách tại link: https://www.facebook.com/bookademy.vn

Tham gia Bookademy Team để có cơ hội đọc và nhận những cuốn sách thú vị, đăng ký CTV tại link: https://goo.gl/forms/7pGl3eYeudJ3jXIE3

Xem thêm

Nghẹn ngào bởi lời gửi gắm niềm tin của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc cho Người: “Nước mất, con lo tìm đường cứu nước, cha rất mừng. Con đi vì mục đích lớn. Con có thể thực hiện được cái điều mà cha và lớp người như cha phải bó tay”. Tôi thổn thức trước câu nói của người cha ấy khi tiễn con xuất dương tìm đường cứu nước: “Đừng! Con đừng gọi cha lúc này! Con phải gọi: Tổ quốc! Đồng bào! Đi… đi con!”. Chấp nhận sự đánh đổi lớn lao như vậy vì trong trái tim vĩ đại kia là lòng yêu nước nồng nàn, là ham muốn rực cháy đưa dân tộc khỏi xiềng xích, là tiếng vẫy gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Chính sự che chở, yêu thương của gia đình, quê hương, của hàng xóm, của bè bạn, sự nghiêm khắc của cha, sự tảo tần của mẹ, sự đùm bọc của “chị Thanh”, “anh Khiêm” đã nuôi dưỡng nên một vĩ nhân lịch sử. Bởi vậy, Sơn Tùng viết: “Các bậc thiên tài không có sẵn. Chính truyền thống gia đình, quê hương là khởi thủy tạo nên những tính cách đầu tiên của mỗi con người và đi vào đời…”. “Búp sen xanh” giúp tôi thấm thía hơn giá trị của gia đình, giúp tôi thêm yêu nơi tôi oa oa cất tiếng khóc đầu đời, nơi tôi lớn lên trong vòng tay ấm áp, sự dưỡng dục, dạy dỗ, nơi từng cành cây ngọn cỏ mái nhà cũng khiến tôi thấy thân thương và bình yên đến lạ và càng trân quý hơn những điệu hồn thiêng liêng của văn hóa truyền thống dân tộc. Và cứ như vậy, tôi đã yêu “Búp sen xanh” tự lúc nào không hay. Một tình yêu đặc biệt… “Búp sen xanh” đáng đọc bởi những dư vị đẹp đẽ, những bài học cao cả, giá trị thiêng liêng mà cuốn sách gửi gắm. Trong đó là cả một trái tim vĩ đại, một tấm lòng mênh mông, một nhân cách cao đẹp khiến nhà thơ Tố Hữu phải thốt lên:

“ Bác ơi, tim Bác mênh mông thế

Ôm cả non sông, mọi kiếp người ” 

“Búp sen xanh” chân thật vì những sự kiện đều chính xác, không pha lẫn truyền thuyết. Nó có thể không khiến bạn đắm chìm trong những ngôn từ ngọt ngào như những bộ thanh xuân trong trẻo , cũng có thể chẳng đem đến cho bạn nhiều kỹ năng, triết lí như “sách Tự Lực” nhưng tôi tin rằng bạn sẽ không bao giờ hối hận khi yêu cuốn sách này. Hy vọng rằng mỗi chúng ta sẽ sống mạnh mẽ, sống yêu thương, sống nhiệt huyết như những búp sen xanh…

“Búp sen xanh” được nhà văn Sơn Tùng chắp bút trong khoảng thời gian từ năm 1948 đến 1980 khắc họa những nét lịch sử, biến cố thăng trầm của cuộc đời Bác từ thời thơ ấu đầy cơ cực còn là một cậu bé thông minh, tinh nghịch, biết cảm thông với những mảnh đời bất hạnh đến chàng trai trẻ rời bến cảng Nhà Rồng với hoài bão vĩ đại tìm ra con đường cứu nước, đưa dân tộc thoát khỏi vòng nô lệ. Ngay từ khi cầm cuốn sách trên tay tôi đã bị ấn tượng bởi nhan đề “Búp sen xanh”. Nó ẩn dụ cho tuổi thơ, thời niên thiếu của Bác, cho màu xanh của sức sống, sức trẻ, cho niềm tin, hy vọng, sự thanh cao, giản dị và dân dã dù trong cảnh “hôi tanh mùi bùn” nhưng vẫn “ rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, ngát hương. Ở “Búp sen xanh” là những gì chân thật, gần gũi, thân thương mà cũng vĩ đại, thiêng liêng nhất về Người. Tôi mỉm cười vì thấy đâu đó bóng dáng tuổi thơ nghịch ngợm của chính mình khi đọc câu chuyện cậu bé Côn thường rủ bạn bè trêu chó khiến chúng sủa om sòm để rồi bị người cha mực thước phạt nghiêm. Tôi lặng người xúc động bởi tình người của những người thợ xóm Chiếu Sài Gòn làm phu khuân vác, tình làng nghĩa xóm của cậu bé Nguyễn Sinh Côn vào năm mất mùa đã lén xúc gạo nhà mình đem cho bà hàng xóm phải ăn thân chuối cầm hơi, của những người hàng xóm giúp đỡ đưa tang, ai cũng muốn đón anh em Côn về ở với mình vì xót thương hoàn cảnh côi cút mất mẹ, cha lại ở xa. Tôi đã nghẹn ngào bởi một cậu bé lên 10 “đầu đội khấu rơm, mặc áo đại tang, chống gậy, chân đất, đi sau quan tài mẹ” rồi gục đầu vào nắp áo quan, toàn thân run lên vì khóc nấc. Tôi đã nghẹn ngào bởi trong ngôi nhà hoang vắng trong cái cảm giác sợ hãi, cô đơn những đêm đầu vắng mẹ ở thành nội, bé Xin nhớ hơi mẹ, thèm sữa gào khóc, không dỗ được em, Côn khóc luôn với em. Nghẹn ngào bởi cái tình, cái tâm thầy Thành truyền cho học trò trường Tiểu học Dục Thanh, Phan Thiết, bởi nghị lực, nhân cách cao đẹp của chàng trai Nguyễn Tất Thành khi chấp nhận rời bỏ quê hương, gia đình, bỏ lại cái tình cảm trong trẻo chớm nở với người con gái Sài Gòn Út Huệ để đối mặt với giông tố, khó khăn nơi đất khách quê người, từ bỏ nghề dạy học để làm công việc khuân vác cực khổ ở Bến cảng Nhà Rồng, làm phụ bếp trên tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin.

Một đời viết có duyên, đôi khi, chỉ cần để lại cho đời một câu thơ, một đầu sách, đã là đáng tự hào. Với Sơn Tùng, lẽ dĩ nhiên, ông để lại nhiều hơn thế, dù nhắc đến ông, điều đầu tiên người ta nhắc đến hẳn nhiên là ba chữ “Búp sen xanh – một cuốn sách đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong ký ức của nhiều thế hệ bạn đọc bởi những trang viết kỹ lưỡng, chân tình, xúc động. Với sự cố gắng phi thường, bất chấp bệnh tật, vết thương đau nhói hành hạ mỗi khi trái gió trở trời, từ năm 1974 đến 1990 ông đã cho ra đời 13 cuốn sách bằng tay phải chỉ còn 3 ngón co quắp. Tuy nhiên, công bằng mà nói, đề tài mà Sơn Tùng thể hiện thành công nhất vẫn là đề tài lãnh tụ, mà đỉnh cao là “Búp sen xanh”. Đây cũng là công trình mà ông bỏ ra nhiều thời gian và công sức nhất: bắt đầu từ năm 1948 và hoàn thành vào năm 1980. Năm 1981 “Búp sen xanh” với 100.000 bản ra đời đã gây một tiếng vang lớn. Với ba phần: I.Thời thơ ấu, II.Thời niên thiếu; III.Tuổi hai mươi, cuốn sách đã tái dựng thành công quãng đời đầy nhọc nhằn nhưng đẹp đẽ, thơ mộng cùng bao hoài bão, khát vọng cao đẹp của lãnh tụ. Ấn tượng đầu tiên khi đọc “Búp sen xanh” là lời đề từ ngắn gọn của nhà văn Sơn Tùng: “Các bậc thiên tài không có sẵn, chính truyền thống gia đình, quê hương là khởi thủy tạo nên những tính cách đầu tiên của mỗi con người đi vào đời”. Qua tác phẩm, nhà văn đã “minh chứng” hùng hồn cho “bài học” ấy, nhẹ nhàng mà vô cùng sâu sắc. Đọc tác phẩm ta phần nào lý giải được điều gì đã hun đúc nên người con vĩ đại ấy? Chính truyền thống cao đẹp của gia đình từ trí tuệ, cốt cách thanh cao của cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc; từ tình yêu thương vô bờ, sự hy sinh thầm lặng của bà, của mẹ Hoàng Thị Loan, của chị Thanh, anh Khiêm…; chính mảnh đất xứ Nghệ “một nắng hai sương” có làng Sen, làng Trù thân thương bình dị nhưng giàu truyền thống yêu nước, mang đậm phong vị quê hương, bản sắc dân tộc… là mạch nước ngầm ngọt ngào, là cái nôi để nuôi dưỡng tâm hồn Bác, ngọn nguồn để hình thành nên nhân cách vĩ nhân.  Với văn phong rất đỗi giản dị nhưng vô cùng biểu cảm; lối kể chuyện tự nhiên nhưng rất đỗi tinh tế, sắc sảo; ngòi bút khắc họa nhân vật sáng tạo của người viết…, cứ thế người đọc như được thả hồn, ngược dòng chảy tháng năm để trở về bên Bác. Theo bước chân của Bác, người đọc lại biết đến kinh thành Huế cổ kính, dòng sông Hương lững lờ, với đình Dương Nổ, trường Pháp – Việt Đông Ba, trường Quốc học hay Bến Nhà Rồng. Những phong tục tập quán, lời ăn tiếng nói… mỗi một vùng đất Bác đi qua cũng được tác giả thể hiện một cách tự nhiên, chân thật.  Cuốn sách cho tôi những phút giây lặng người và những giọt nước mắt xúc cảm trước mỗi khó khăn, gian khổ trong suốt thời thơ ấu và thanh niên của Bác nhưng Bác luôn cố gắng vượt qua để đi tìm chân lý cho dân tộc, cứu đất nước khỏi cảnh nô lệ, lầm than. Hành trình con đường cứu nước của Bác trải qua có muôn vàn khó khăn, gian khổ. Mỗi một trang sách giúp tôi thấy rõ hơn chân dung, hình ảnh Bác kính yêu của thời thơ ấu, thời niên thiếu, tinh thần vượt khó, luôn làm việc hết mình và học hỏi hết mình. Người đọc nhận ra những phẩm chất người qua từng cử chỉ, lời nói đầy tình thương, kính yêu của cậu bé Côn với ông bà, cha mẹ, anh chị em trong nhà, với bạn bè cùng trang lứa, cô bác nơi hàng xóm láng giềng. Tuổi thơ của Bác trải qua những “đoạn trường” khổ ải, thiếu thốn trăm bề nhưng đã vươn lên, vượt qua giông tố, mãi là bài học về tình thương, nhân cách, nghị lực sống. Và bao, bao trang viết xúc động như thế… mãi neo đậu trong tâm hồn người đọc những ấn tượng sâu sắc, khó quên… Nhà văn M.Gorki từng nói: “Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới”. Có thể khẳng định cuốn sách là một trong những món quà thiêng liêng nhất mà nhà văn Sơn Tùng nói riêng, tổ quốc Việt Nam nói chung thành kính dâng lên Người. Với nhan đề hàm nghĩa ẩn dụ: tuổi thơ, thời niên thiếu của Bác như loài hoa bình dị cao quý: búp sen thơm ngát, căng tràn nhựa sống, mãi tươi xanh, tỏa hương cho đời; cuốn tiểu thuyết “Búp sen xanh” vẫn giữ nguyên những vẻ đẹp, giá trị đích thực của nó. Bởi lẽ ở đó có một cốt cách, một tâm hồn cao cả, một con người  đẹp nhất của mọi thời đại, một bức tượng đài sừng sững trong lòng nhân loại. Đọc những cuốn sách hay ta sẽ nhận ra được giá trị đích thực của cuộc sống để vươn tới “chân, thiện, mỹ“, để sống đẹp, sống có ý nghĩa hơn. Vậy thì đừng chần chừ, lãng phí thời gian nữa, bạn hãy làm đẹp tâm hồn mình; hãy đến với những khám phá mới mẻ, thú vị, bất ngờ, bổ ích đang chờ đón bạn với quyển “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng.

Trong hành trình gian nan và vô tận, con người luôn tìm kiếm những hình mẫu có thật trong cuộc sống để tôn vinh và noi theo với mong muốn trở nên hoàn thiện hơn. Một trong những hình mẫu lý tưởng ấy là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Bác là vị lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, là người anh hùng giải phóng dân tộc, và đồng thời là một danh nhân văn hóa thế giới. Đã có rất nhiều cuốn sách, tự truyện, tiểu thuyết viết về Bác, nhưng cuốn tiểu thuyết hay và đặc sắc nhất mà tôi từng xem qua và muốn xem đi xem lại nhiều lần nhất đó là cuốn “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng! Hôm nay tôi và các bạn cùng đi tìm hiểu quyển sách này nhé! Cả cuộc đời mình, nhà văn Sơn Tùng đã không ngừng tích lũy, tìm kiếm tư liệu, vượt lên thương tâm để nghiên cứu, viết về Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Ông có những hiểu biết, tư liệu về lãnh tụ mà không phải bất cứ nhà nghiên cứu nào cũng có được! Đọc tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng, ta hiểu biết về tuổi thơ, tuổi niên thiếu và tuổi mới trưởng thành của một con người vĩ đại, yêu quý nhất của dân tộc ta – Hồ Chí Minh. Chúng ta càng hiểu rõ gia cảnh, hoàn cảnh lúc Người mới sinh, lớn lên, trưởng thành. Môi trường sống, học tập, trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội. Một môi trường khá đặc biệt để cho những phẩm chất đạo đức, tư tưởng hình thành và phát triển. Chúng ta có thể khẳng định những phẩm chất đạo đức, tư tưởng mà Người được tiếp thu, rèn luyện từ gia đình, quê hương, nhà trường, xã hội là nguồn gốc cơ bản của đạo đức, tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới kiệt xuất. Đó là di sản tinh thần vô giá mà Bác để lại cho nhân dân ta, dân tộc ta. Chúng ta cần nghiên cứu, giữ gìn, phát huy, phấn đấu học tập, làm theo tấm gương đạo đức, tư tưởng của Người. Cuốn sách được nhà văn chia làm 3 chương: “Thời thơ ấu”, “Thời niên thiếu” và “Tuổi hai mươi”. Những biến thiên của lịch sử, của gia đình nội ngoại hai bên và quá trình định hình nhân cách, ra đi tìm đường giải phóng dân tộc của vĩ nhân Nguyễn Sinh Cung – Nguyễn Tất Thành trong khoảng 20 năm, cuộc chia tay trên Bến Nhà Rồng ngày 5 tháng 6 năm 1911 giữa Út Huệ và Nguyễn Tất Thành, được tác giả kể lại bằng những trang văn xúc động. Không những thế, trong Búp sen xanh, tác giả cũng đưa người đọc về với làng quê xứ Nghệ những năm đầu thế kỷ 20, nơi ấy là làng Sen quê nội, làng Hoàng Trù quê ngoại của Hồ Chí Minh, với những câu dân ca, bài vè, câu ví dặm. Theo bước chân của Hồ Chí Minh khi còn thơ ấu với tên gọi Nguyễn Sinh Cung, đến khi trở thành một người thanh niên với tên Nguyễn Tất Thành, người đọc lại biết đến kinh thành Huế cổ kính, dòng sông Hương lững lờ, với đình Dương Nổ, trường Pháp – Việt Đông Ba, trường Quốc Học hay Bến Nhà Rồng, với tất cả những phong tục tập quán, lời ăn tiếng nói mỗi một vùng được thể hiện một cách tự nhiên, chân thật. Bằng những tư liệu phong phú chân thực đi sâu khai thác nhiều chi tiết điển hình, tác giả đã đem đến cho bạn đọc những trang tiểu thuyết hấp dẫn đến bùi ngùi cảm động cùng những tình tiết xung đột trong cuộc sống thường nhật với niềm vui và nỗi buồn, đắng cay hiếu thảo, ham học, tò mò! Có lẽ vì thế, nhiều năm trở lại đây cuốn tiểu thuyết nổi tiếng này được đưa vào tủ sách vàng của nhiều nhà xuất bản, được in đi in lại nhiều lần, được dịch sang tiếng anh và được in song ngữ. Lang thang qua những vỉa hè những nhà sách lớn hay những quầy sách nhỏ đâu đâu ta cũng thấy cuốn sách này như một điều để nhìn thấy Bác. “Búp sen xanh” có lẽ là món quà thiêng liêng nhất mà nhà văn Sơn Tùng nói riêng và nhân dân cả nước nói chung kính dâng lên Bác Hồ. Trải qua bao nhiêu năm tháng mà cuốn sách vẫn giữ vững được những nét đẹp, giá trị đích thực của nó bởi trong đó có chứa đựng một tâm hồn cao cả vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam ta. Xin cảm ơn nhà văn Sơn Tùng vì đã để lại cho tôi và bạn đọc cuốn tiểu thuyết vô giá này. Để tìm hiểu chi tiết nội dung cuốn sách các bạn hãy tìm đọc nhé!

Cuốn sách thuật lại cuộc đời của bác Hồ từ lúc sinh ra cho tới khi rời bến cảng Nhà Rồng, lên con tàu La tu sơ Tơ rê vin làm phụ bếp để tìm đường cứu nước. Tôi vốn không quan tâm đến chính trị, các vị lãnh đạo và anh hùng luôn được tôi dừng ở mức biết ơn và tôn trọng. Nhưng đọc cả tác phẩm này, tôi mới thấy Nguyễn Tất Thành là người đáng để ngưỡng mộ, để cảm mến, trên cả lòng biết ơn và tôn trọng như thế nào. Từ cái thời thơ ấu, Nguyễn Sinh Côn (chúng ta vẫn hay biết đến cái tên Nguyễn Sinh Cung nhiều hơn nhỉ?) đã thể hiện ra mình là bậc thiên tài xuất chúng, theo một cách không cần quá hoa mỹ và phi thường. Trải qua nhiều sóng gió trong tuổi thơ, vị chủ tịch nước vĩ đại của chúng ta đã trở thành một con người giản dị và thanh cao nhất. Một con người với tất cả khí chất đều được thể hiện rõ qua đôi mắt to, đen và dài. Tôi không biết những điều trong cuốn sách này có hoàn toàn đúng với cuộc đời của Bác hay không. Hay có chăng chỉ là những điều do Sơn Tùng nghĩ ra để phần nào thể hiện được lòng ngưỡng mộ của ông? Nhưng càng về sau, lời văn và tình tiết chân thật đến mức tôi còn chả thèm quan tâm đến những điều đó nữa. Hồi học tiểu học và trung học cơ sở, giáo viên vẫn thường yêu cầu học sinh kể vài câu chuyện về Bác Hồ. Nếu tôi đọc quyển sách này sớm hơn thì có lẽ ngày trước sẽ không còn chật vật vì chỉ có mấy mẩu chuyện cũ mèm nữa rồi. Cô giáo của tôi từng nói về 2 việc ... nhất cuộc đời Bác, đó là: (1) bỏ thuốc lá và (2) không cưới vợ. Tôi tự hỏi không biết có bao nhiêu cô gái đã phải lòng anh Ba của chúng ta như chị Út Huệ rồi đành ngậm ngùi buông xuôi tình cảm với người đàn ông một lòng đặt nước đặt dân lên đầu như thế này? Cuối cùng, quả thực, một cái chậu thủy tinh chỉ có thể nuôi một con cá vàng chứ không ai đem nó đi nhốt một con cá mập, một cái lồng chỉ để nhốt một con chim vàng anh chứ không ai nhốt một con đại bàng. Tuổi trẻ của một người đã dám ra đi ra biển lớn mà vùng vẫy vì đất nước, trở thành một con người vĩ đại của cả dân tộc sẽ được thể hiện qua tác phẩm đặc biệt này.

Từ xưa đến nay đã có không ít các nhà văn, nhà thơ viết về Bác, về thơ Bác, về cuộc đời của Bác. Tuy nhiên, khi đến với “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng, người đọc như được đưa vào một thế giới ngập tràn xúc cảm. Ông viết về cuộc đời Bác như một áng văn trữ tình, dẫn độc giả đến với tác phẩm một cách êm dịu như hương sen thoang thoảng đầu tháng 6. Tác giả níu chân người đọc ở lại mãi qua từng câu chữ, khiến người ta lưu luyến mà tiếp tục lật giở từng trang sách, để hiểu thêm về con người, về tư tưởng của người lãnh tụ vĩ đại nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Câu chuyện mở ra với hình ảnh ông Xẩm mù ngồi ở gốc đa cùng với tốp người đi làm đồng về trong một buổi chiều khi cơn giông mùa hạ đang dần kéo đến. Tiếng hát của ông Xẩm hòa cùng với hương sen, với nỗi lo mất nước của người dân nước Việt. Chính ngày ấy cũng là lúc mà một con người vĩ đại được sinh ra, người dân làng Sen như tạm quên đi cái nỗi lo nước mất nhà tan mà vui chung niềm vui của nhà anh nho Sắc, của họ Nguyễn làng Sen. Nguyễn Tất Thành - Ngay chính cái tên Người được đặt cũng phần nào nói lên mong ước giải phóng Dân tộc của thầy nho Sắc khi từ phía đầm sen tiếng quốc kêu vang lên da diết, khắc khoải: “ Theo mong ước của tôi thì...thằng bé sẽ có chí vẫy vùng bốn bể,dù gặp truân chuyên, chìm nổi, nhưng ắt sẽ thành công”. Cái tên hay cũng như lời tiên đoán về cuộc đời của Bác. Như một lẽ đương nhiên cậu bé Nguyễn Sinh Côn càng lớn càng thông minh, sáng dạ, có không ít người bạn của cụ nho Sắc đã phải trầm trồ khen ngợi. Mấy năm sau, cụ Nho phải tên kinh thi Hội lần hai, mang cả gia đình trở vào kinh thành Huế. Lúc bấy giờ cũng chính là bước ngoặt đầu tiên trong cuộc đời Bác. Ở tại vùng đất Kinh kỳ, Người được tiếp cận nhiều hơn với văn hóa phương Tây, với những cậu ấm cô chiêu nhà quan lớn. Cũng tại nơi này, Người mất đi hai người thân, khi mà mẹ Người sinh khó mà mất, em trai không lâu sau đó cũng qua đời. Bác lại được đưa về sống ở Làng Chùa cùng bà ngoại, khi cha Người đỗ Phó Bảng, được người ta cấp ruộng, cấp đất, Bác lại trở lại quê nội làng Sen. Không lâu sau, cụ Nguyễn Sinh Sắc buộc phải nhậm chức quan Thừa Biện Bộ Lễ ở kinh thành, Người lại một lần nữa trở vào Huế. Lúc này, Người được tiếp cận với chữ quốc ngữ, với những môn học của phương Tây, được theo học tại Trường Quốc Học. Và đây cũng là lúc mà dòng máu nóng nồng nàn yêu nước của Bác bùng lên khi lần đầu tham gia biểu tình cùng công nhân chống sưu thuế. Bác bắt đầu được gặp nhiều hơn những con người có chí hướng giải phóng Dân Tộc. Dần dần, Bác nhận thấy con đường cứu nước của những người đi trước chưa hợp lý, sức trẻ và lòng yêu nước thôi thúc Bác đi tìm đường cứu nước. Đi qua nhiều nơi, làm nhiều nghề, gần gũi với những người dân lao động, Người quyết tâm phải ra nước ngoài, xem người ta làm thế nào để về dạy cho dân mình. Nghĩ là làm, 5/6/1911, Người lên xin chân phụ bếp lên tàu qua nước Pháp. “Búp sen xanh” không đem lại cho người đọc cảm giác khô cứng khi kể lại một giai đoạn cuộc đời, nó êm ái, sâu lắng và nhiều xúc cảm. Nhà văn như làm hiện lên trong tâm trí độc giả từng cảnh vật, con người, từng nhành cây, ngọn cỏ sinh động có hồn. Cả câu chuyện như một thước phim in dấu trong lòng người, dù bao lâu cũng nhớ mãi. Đó không chỉ là kể về cuộc đời mà còn là bài học, là tư tưởng, là con người vĩ đại mà ai cũng đều phải học hỏi. Từng nhân vật, sự kiện đều là những gì có thật, nhà văn cũng chẳng quá thi vị hay thần thánh hóa, để người đọc nhìn thấy được những gì gần gũi thân thương nhất của con người suốt đời vì dân vì nước.


Liệu tiểu thuyết và lịch sử có thể gặp nhau không? Một cuốn tiểu thuyết viết về một nhân vật lịch sử nhưng lại không chỉ đơn thuần là lịch sử. Một cuốn tiểu thuyết viết cho lứa tuổi thiếu nhi nhưng lại có thể làm rung động người đọc ở bất kì độ tuổi nào. Tôi đang muốn nói tới cuốn tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng viết về quãng thời niên thiếu của Bác Hồ từ khi sinh ra tại làng Sen bên ngoại đến lúc lên tàu ra đi tìm đường cứu nước. Hễ nhắc đến chủ tịch Hồ Chí Minh thì trong mỗi người dân Việt Nam ta đều hiện ra trong đầu hình ảnh một vị cha già dân tộc giản dị mà đáng kính. Nhưng Búp sen xanh của nhà văn Sơn Tùng lại đem đến cho chúng ta những góc nhìn khác, những hình ảnh khác của vị lãnh tụ vĩ đại, gần gũi hơn, thân thương hơn mà cũng thần kỳ hơn. Đó là một cậu bé Côn sáng dạ, thông minh nhưng cũng rất nghịch ngợm khi còn ở làng Sen bên ngoại. Cậu bé dẫn đầu đám trẻ trong làng đi phá tổ chim, trêu chó… để rồi bà hàng xóm sang tận nhà nặng lời xúc phạm khiến cậu bị cha phạt nặng. Nhưng rồi cũng chính cậu bé ấy vào một năm làng mất mùa đã lén xúc gạo nhà mình mang cho bà hàng xóm khi thấy bà đang phải ăn thân chuối cầm hơi. Đó là một cậu bé Côn tuổi lên 10 một mình chăm sóc người mẹ bệnh nặng và em trai út mới sinh những ngày ở kinh thành Huế. Thế rồi mẹ cậu không qua khỏi, cậu phải bế em đi xin sữa của những người có con nhỏ trong làng. Đêm giao thừa năm ấy, trong khi xung quanh người người nhà nhà quây quần ấm úng thì cậu bé ấy đã cô đơn, sợ hãi đón giao thừa trong căn nhà lạnh lẽo, không còn hơi ấm của mẹ và trên tay cậu, tiếng khóc của người em trai đang đuối dần rồi tắt hẳn. Đó là một thầy giáo trẻ nhiệt huyết dạy chữ ở trường tiểu học Dục Thanh, Phan Thiết – một vùng đất biển cực Nam Trung Bộ đầy nắng gió. Người thầy giáo ấy luôn là người đầu tiên quan tâm, lo lắng khi học trò của mình gặp chuyện, luôn là người đầu tiên buồn lòng khi học trò của mình phạm lỗi. Cái mà thầy Thành truyền đến học trò của mình không chỉ là những con chữ mà còn cả tình yêu nước, những bài học làm người, những câu truyện dân gian từ xa xưa mà thầy nghe được khi còn ở tuổi thiếu niên. Đó là một chàng thư sinh nho nhã từ bé đến lớn chỉ quen sách đèn nhưng lại quyết tâm từ bỏ nghề dạy học để chấp nhận làm phu khuân vác tại bến Nhà Rồng đến anh phụ bếp trên tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-re-vin. Nếu ở lại, anh vẫn sẽ là một cậu ấm con quan có thể hưởng một cuộc sống an nhàn, vương giả nhưng tiếng gọi của tổ quốc đã thôi thúc anh ra đi, rời xa gia đình, rời xa quê hương, bỏ lại cả mối tình ngắn ngủi với Út Huệ – người con gái Sài Gòn vẫn hay thẹn thùng nhờ anh dạy chữ để đến với những phương trời xa lạ, đến với những nền văn minh mới, tìm ra con đường giải cứu dân tộc. Cuốn tiểu thuyết là minh chứng cho một điều “Các bậc thiên tài không có sẵn, chính truyền thống gia đình, quê hương là khởi thủy tạo nên những tính cách đầu tiên của mỗi con người đi vào đời”. Nếu như không có một người cha nghiêm khắc, yêu nước, nếu như không có một người mẹ dịu dàng, hiền hậu, nếu như không có anh Khiêm, chị Thanh luôn ở bên đùm bọc chở che hay đơn giản nếu như thiếu đi những câu hát đờn của ông già Xẩm “Nước Nam ta sao lại có Tây…” thì có lẽ đất nước Việt Nam của chúng ta đã không thể nuôi dưỡng được một nhân cách cao quý, vĩ đại như thế. Vẫn nhớ mùa hè năm đó, khi nhận cuốn sách từ mẹ, ấn tượng ban đầu của tôi đó là sách thật nhẹ, giấy cũng thật thơm. Không ngờ sau đó cuốn sách lại mang đến cho tôi nhiều cảm xúc đến thế. Tại sao lại yêu Bác? với tôi, có lẽ đơn giản chỉ vì “Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn” .

Có một lời bài hát đã viết:  “Bác Hồ – Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại”. Lời hát trong trẻo thiết tha ấy như được cất lên từ tận sâu trái tim mỗi con người Việt Nam khi nhắc về Bác – vị cha già kính yêu của dân tộc. Người dành trọn cuộc đời để lo cho dân, cho nước, hy sinh thầm lặng quên mình vì nước, vì dân. Nhắc tới Bác là nhắc tới một cuộc đời rất đỗi thanh cao và giản dị. Nay, Bác đã đi xa nhưng những gì mà Người để lại cho dân tộc vẫn luôn là vô giá, luôn trường tồn mãi với thời gian. Hưởng ứng ngày văn hóa đọc và 130 năm ngày sinh nhật Bác (19/5/1890-19/5/2020) chúng ta cùng nhớ về Người qua cuốn sách “Búp sen xanh" của tác giả Sơn Tùng.

“Tháp Mười đẹp nhất bông sen

Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ".

Cuộc đời 79 mùa xuân với hơn 60 năm hoạt động cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là một đề tài lớn trong văn học và nghệ thuật. Đã có biết bao tác phẩm văn học ca ngợi Hồ Chủ tịch, trong đó “Búp sen xanh” là tiểu thuyết đầu tiên viết về Người và còn là tiểu thuyết lớn nhất của nhà văn Sơn Tùng. Tác giả đã dày công sưu tầm tư liệu và chắp bút trong suốt hơn 30 năm từ năm 1948 đến năm 1980 và được xuất bản lần đầu năm 1981. Tác phẩm chia làm ba chương: “ Thời thơ ấu, Thời niên thiếu, Tuổi hai mươi”. ​Trong những trang đầu tác giả đã đưa người đọc về với làng quê Xứ Nghệ với những câu dân ca, bài vè điệu hò ví dặm. Vào ngày 19/5/1890 tại nơi Làng Chùa nhòe khói sương lam, cậu bé Nguyễn Sinh Côn đã cất tiếng khóc chào đời. Khi ấy chưa ai biết rằng thời khắc đáng nhớ đó đã trở thành một mốc son lịch sử không chỉ trong gia đình thầy Nguyễn Sinh Sắc mà còn là cả của dân tộc Việt Nam. Đó chính là ngày sinh của vị lãnh tụ kính yêu mà chúng ta vẫn gọi thân thương với hai tiếng Bác Hồ. ​Đắm chìm vào những trang sách người đọc sẽ không cầm nổi nước mắt trước cuộc đời éo le của bà Hà Thị Hy- bà nội của Bác Hồ, hay những bất hạnh từ sự đói nghèo, cũng như nghị lực vượt lên số phận bằng con đường học hành của thân phụ Bác Hồ cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Nhưng xúc động nhất là hình ảnh cậu bé Côn mới 11 tuổi đã phải chứng kiến cảnh mẹ mất ở kinh thành Huế trong những ngày giáp Tết. ​“ Côn mím chặt môi, không cho bật ra tiếng khóc, càng chạy nhanh càng dồn nén nỗi đau tắc nghẹn, nước mắt trào giàn giụa, Côn lại òa lên khóc khi thấy mẹ đã thòng một cánh tay xuống bên thành giường, một tay vẫn ôm qua cổ bé Xin…Côn phủ phục xuống bên mẹ gọi mẹ….mẹ ơi.. mẹ bỏ chúng con sao mẹ ơi..cha chưa kịp về mẹ ơi!". ​Thế là cậu bé Côn phải phải một mình bế đứa em nhỏ côi cút, bệnh tật, yếu ớt mới được vài tháng tuổi đi xin từng giọt sữa để duy trì sự sống cho em, nhưng rồi chỉ một vài ngày sau đó đứa em bé nhỏ kia cũng rời bỏ Côn mà đi. Đôi mắt thơ ngây của đứa em nhỏ như hai chấm đen ánh lên lần cuối cùng rồi chìm vào vĩnh viễn. Và đặc biệt để lại ấn tượng khó quên trong lòng người đọc là cuộc chia tay trên Bến Nhà Rồng vào ngày 5/6/1911 lịch sử giữa cô Út Huệ và anh Ba. Cả hai đã kịp nén những tâm sự sâu xa thầm kín, một người gửi tâm sự vào những dòng nước mắt, còn anh Ba nhìn thấy gương mặt người con gái Sài Gòn trước mắt như một búp sen quê hương và cả khuôn mặt Việt Nam choàng lấy trái tim anh. ​Các em học sinh thân mến! với tấm lòng kính yêu vô hạn đối với Bác , tác giả đã dựng lại quãng đời niên thiếu của Bác từ khi cất tiếng khóc chào đời tại làng Chùa quê ngoại cho đến khi rời Bến Cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước ở tuổi 20 đầy khát vọng. ​Trải qua bao năm tháng “Búp sen xanh" vẫn được xem là một tác phẩm hay viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ cho thiếu nhi mà còn được cả người lớn đón nhận như một món quà thiêng liêng. ​Các bạn trẻ khi trẻ khi đọc “Búp sen xanh" sẽ thấy một tấm gương sáng ngời về nhân cách về tâm hồn của chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Không những thế tác phẩm còn góp phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục, nhắc nhở động viên thế hệ trẻ Việt Nam nâng cao tinh thần trách nhiệm với vận mệnh của Tổ quốc, học tập rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho xã hội. ​Với những ý nghĩa sâu sắc đó, nhà trường mong các em học sinh sẽ tìm đọc cuốn sách “Búp sen xanh” để hiểu thêm về cuộc đời của vị cha già vĩ đại và thêm kính yêu, biết ơn Người.