Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Nhắc đến sen, bạn sẽ nghĩ đến điều gì? Một loài hoa sinh ra ở nơi vũng bùn, đầm lầy nhưng vẫn kiên quyết mạnh mẽ đứng lên, mặc cho những vấy bẩn, vẫn “ rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, tỏa sáng và đẹp đẽ hơn bao giờ hết? Đúng là sen rất đẹp nhưng chẳng phải tự nhiên mà sen đẹp như thế, để có thể mạnh mẽ như vậy, búp sen đã phải lớn lên và vươn cao, nói không ngoa chính sự rèn rũa từ búp đã tạo nên vẻ đẹp không thể nhầm lẫn của sen. Nếu như sen là những bậc hiền tài thì búp sen sẽ là đứa trẻ tạo nên những bậc hiền tài đó và “Các bậc thiên tài không có sẵn. Chính truyền thống gia đình, quê hương là khởi thủy tạo nên những tính cách đầu tiên của mỗi con người và đi vào đời…”

Giống như một bông hoa sen, cao quý và thanh khiết, Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha già kính yêu của dân tộc, vị lãnh tụ vĩ đại luôn đặt đất nước lên trên hết, vì hai chữ quê hương mà sống, vì no ấm của hàng triệu người con mà quên đi bản thân mình. Người không ham một cuộc sống sung túc, người giỏi giang, giản dị, mạnh mẽ, kiên cường,…. Người luôn tỏa sáng với nhân cách cao đẹp, tư tưởng của Người, tình cảm lớn lao của Người luôn sống mãi trong người dân Việt Nam. Và cũng giống như một đóa sen, vẻ đẹp ấy không tự dưng mà có, nó được hun đúc từ búp, từ những ngày Bác còn thơ, rồi từng ngày, từng ngày trưởng thành, nó hoàn thiện dần và tạo nên một con người cứu sống cả một dân tộc.

Giới thiệu tên Bác trong từng giai đoạn

     1.     Tên khai sinh (tên sử dụng lúc nhỏ): Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Sinh Cung)

     2.     Tên tự (tên sử dụng trong thời niên thiếu): Nguyễn Tất Thành 

     3.     Tên Bác sử dụng trước khi tìm ra đi tìm đường cứu nước: Anh Ba

Thời thơ ấu

Nói các bạn có tin không, cũng giống như chúng ta, khi còn bé Bác cũng là một đứa trẻ nghịch ngợm, luôn ở trong lớp đầu têu những trò quậy phá. Trèo mái nhà phá tổ chim, trèo cây hái quả, ghẹo chó nhà hàng xóm, rủ cả lớp đang học đi câu cá,… tất cả những việc đó, Bác đều trải qua nhưng có lẽ chính nhờ những lần lỡ “ nghịch dại” ấy cùng một tuổi thơ đầy vất vả mà Bác trưởng thành. Suốt những năm tháng thơ ấu, thầy, u, anh, chị, bạn bè, hàng xóm, bà ngoại,vi sư, gì,…là những người gắn liền với Bác, họ chính là những tác động tích cực tạo nên nhân cách của một vĩ nhân lịch sử.


Trong số những người kể trên, có lẽ cha là người ảnh hưởng tới Bác nhiều nhất. Ông là một quan phó bảng, đỗ kì thi Hương. Dù làm quan nhưng cả đời ông luôn hướng tới một cuộc sống giản dị, tự do, tự tại, bốc thuốc cứu người, luôn vì hai chữ thanh liêm mà sống, tất cả vì nhân dân. Tuổi thơ của ông vốn cũng là một tuổi thơ nhiều biến động. Cha mẹ đều mất sớm, ở cùng với anh, may mắn được thầy mình nhận nuôi sau lại gả con gái lớn cho, ông luôn chăm chỉ học tập, đi thi nhưng không phải để làm quan, học tập để cứu giúp con người. Ông luôn sống liêm minh, chính trực. Mặc dù gia cảnh rất bình thường, được thưởng đất vì đỗ tú tài, ông cũng chỉ lấy một ít, còn lại chia hết cho nhân dân. Ông chẳng bao giờ tự cao, sống hòa đồng cùng bà con, chòm xóm. Ông luôn răn dạy các con của mình phải chăm chỉ đọc sách bởi sách là nhãn tự. Đối với những trò nghịch ngợm của đứa trẻ Nguyễn Sinh Côn, ông nghiêm khắc nhưng cũng dịu dàng giải thích lí lẽ cho con hiểu thấu. Ông dạy con thật nhiều mà hi vọng vào con lại càng lớn, hi vọng vào con đường con đi, hi vọng rằng con sẽ thay cha thực hiện ước nguyện mà ông đã bỏ lỡ. Chính nhân cách cao đẹp của ông đã tác động lớn đến con người của Bác.

Con đã thuộc bài, các bạn của con chưa thuộc mà con rủ bạn đi câu cá là phạm lỗi. Cái lỗi ấy là: con chỉ thấy phần mình đã xong, không nghĩ đến phần người khác, như vậy là ích kỷ. Con đã rõ chưa?

Côn! Vì đang ở trên đường, nếu ở nhà thì cha bắt con nằm xuống đánh mười roi vì tội bất đễ. Anh con có nói sai, xử sự sai với con  thì đã có cha phân xử, hoặc con phải nói với anh bằng một thái độ lễ phép. Con không được nói với anh câu nói của nhà vô giáo dục như vậy. Con khoanh tay xin lỗi anh đi con.

Sự suy nghĩ của con cũng giống sự suy nghĩ của cha về công cuộc cứu nước cứu dân. Người xoay chuyển được cuộc thế có lẽ… lớp các con chứ lớp ông nghè, ông cử như cha không gánh nổi đâu. Âu đành… Mặc khách tâm minh Chung Sơn thạch, bất bình sự phó Cả giang lưu.

Không chỉ cha, mẹ cũng là người có ảnh hưởng không nhỏ đến Bác. Bà là một người phụ nữ luôn hết lòng ủng hộ, thương yêu, hi sinh vì chồng con. Bà không quản ngại làm đồng vất vả nuôi chồng học, âm thầm đứng đằng sau, ủng hộ cho sự nghiệp của chồng. Nuôi con từ những lời ru à ơi, bà luôn dạy các con rằng “Chữ là mắt. Người không có chữ coi như người mù ở thế gian”. Nếu như cha là người dạy bé Côn kiến thức vào đời, rèn luyện cho Côn những đức tính cao đẹp thì mẹ chính là người bồi đắp cho Côn một trái tim đầy tình thương. Tuy ra đi ở tuổi đời vẫn còn trẻ nhưng những gì bà mang đến cho Côn không chỉ là một tình mẫu tử thiêng liêng, mà còn là nhân cách, những bài học làm người giá trị, hoàn thiện nên một tâm hồn vĩ đại.

Bên cạnh cha mẹ, xung quanh Côn còn thật nhiều những con người đáng quý. Họ là anh chị, bà ngoại, bạn bè, hàng xóm,… Đó là những con người không có nhiều quyền thế nhưng hết mực yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Chính họ cũng tác động một phần không nhỏ vào cuộc đời của bé Côn. Ở họ, ta có thể thấy cái gọi là tình bạn, cái gọi là tình chòm xóm “tối lửa tắt đèn có nhau”,… để từ đó ta thêm yêu con người, ta tin tưởng nhiều hơn về tình nhân ái.

      -   Tội nghiệp bà cử! Cha con ông cử vẫn chưa về

      -   Tội nghiệp thân anh em bé Côn! Mệ chết mà chẳng có một ai thân thích ở gần!

     -   Giữa lúc năm hết, tết đến mà mệ chết, cha vắng nhà, ở giữa đất khách quê người này, liệu anh em bé Côn sẽ sống ra sao đây?

      -   Vậy ra… ông bà cử nghệ không có ai là người ruột thịt ở miệt ni à?

      -   Chẳng có một người nào cả.

      -   Vậy thì, chị em xa, ta là láng giềng gần, mỗi người một tay để đưa bà cử về nơi an nghỉ cuối cùng.

Trong tác phẩm, ta cũng có thể thấy sự hiện diện của những nhà hoạt động cách mạng, họ là bạn của cha Côn. Có lẽ chính nhờ sự xuất hiện sớm của những con người ấy mà từ nhỏ, Côn đã được tiếp xúc với những con đường cứu nước để từ đó ngẫm nghĩ và có suy nghĩ trưởng thành hơn tuổi.

Tuy yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lớn tới con người và nhân cách Bác nhưng nó chưa đủ, yếu tố chính tạo nên một vĩ nhân lịch sử sau này nằm ở chính sự nghị lực và kiên cường trong Bác. Những năm tháng ấu thơ, tuy nghịch nhưng Côn rất chăm chỉ, chịu khó, biết nghe lời, yêu thương mọi người và lập trường quan điểm chín chắn. Không khó để nhìn thấy sự nghị lực của Bác trong những ngày tháng vô cùng khó khăn, mẹ mất, một mình nuôi em, theo cha sống xa quê từ những ngày bé,…Bác luôn không ngừng học hỏi với một trái tim đầy yêu thương để từ đó tự trưởng thành và sống với nhân cách đáng ngưỡng mộ, giống như cái tên của mình, trở thành “ loài cá hóa chim bằng”.

Với cái tuổi lên mười, Côn đã phải nấu cháo, sắc thuốc, chăm sóc bệnh tình của mẹ. Hằng ngày, Côn còn phải bế em sang hàng xóm xin những bà mẹ đang nuôi con thơ cho em được bú nhờ.

Cái cảm giác sợ hãi đã bay biến khi nỗi cô đơn bao trùm lấy tâm trí Côn lúc cả kinh thành bay lên theo tiếng pháo giao thừa. Côn phải dỗ em bằng kẹo, bánh của các bạn đến cho. Tuy em Xin chưa biết nói, Côn vẫn trò chuyện với em như nó đã tiếp nhận được mọi điều…

Thời niên thiếu

Thời niên thiếu của Bác là những ngày tháng sống ở kinh thành Huế, học tập tại đây, sau đó trở thành thấy giáo ở Phan Thiết rồi chuyển vào Sài Gòn.


Bắt đầu từ những ngày sửa soạn theo cha lên đường vào kinh đô Huế lần hai. Cùng với cha và anh , Côn bận rộn chuẩn bị mọi thứ để tạm biệt mọi người. Sự xa quê lần này của ba cha con diễn ra trong những lời thân thương của mọi người nơi quê nhà

Ba cha con phó bảng Sắc bước từng bước bin rịn, chốc chốc ngoái về phía sau. Những người thân và dân làng đi tiễn đứng rải rác dưới bóng tre nhìn theo cha con ông đang đi xa dần.

Họ sống ở nhờ nhà người bạn, trên đường đi, với lối suy nghĩ của những người từng trải, cậu bé Côn năm nào giờ được gọi với cái tên Tất Thành chiêm nghiệm được nhiều thứ:

…Bên tai anh văng vẳng lời ca mà anh thuộc từ nhiều năm trước:

Nước Nam ta sao lại có Tây

…Tất Thành cảm thấy ở đất “ thần kinh” này đang có một sự chuyển động âm ỉ ở bên trong,…

Ở nhờ nhà bạn cha, Tất Thành tỏ rõ mình là một con người được giáo dục tử tế với phong cách và kinh nghiệm sống đáng học hỏi.

Bữa cơm khách đầu tiên, ăn xong Thành tự đi lấy tăm đặt lên miệng chén trà cho từng người. Thành thu dọn bát đĩa và đi rửa….

Đến ở ngày hôm trước, hôm sau Thành đã đi chợ đong gạo, mua thức ăn. Thành biết rành từng loại cơm ở chợ Đông Ba như gạo lốc dâu, gạo chăm, gạo té, gạo hẻo…

Với những tư tưởng sống tiến bộ “…Muốn biết rõ cội nguồn của người Tây là thế nào thì phải biết chữ của họ, tiếng nói của họ, nền văn minh của họ. Và càng không thể bỏ qua việc học loại chữ mới…”, Tất Thành đăng kí học vào trường Đông Ba. Ở đây, Thành gặp lại những người bạn cũ đã không quản ngại khó khăn giúp đỡ mình năm xưa. Cùng với bạn của mình, trong một lần nhân dân ta nổ ra biểu tình, Thành đi trong đội ngũ những người đấu tranh đòi quyền sống. Giữa biển người ào ạt, Thành thấy một người trạc tuổi anh bị thương nặng, anh chẳng kịp suy tính mà cứu lấy người đó. Sau này, chính người ấy lại trở thành một người anh em cùng Tất Thành trải qua tuổi hai mươi. Sau cuộc nổi dậy đó, Tất Thành bị cảnh sát săn đuổi, anh đã có thể trở lại trường học nhưng không, để lại cái danh người học trò xuất sắc, anh đã ra đi, ra đi theo tiếng gọi của con tim, ra đi để viết lên trang sử mới.

Dấu chân Nguyễn Tất Thành in xuống cực nam trung bộ. Nghe theo lời cha, anh đến dạy ở trường Dục Thanh. Ở đây anh hết lòng chỉ dạy cho những học trò nhỏ, lại không ngại giúp đỡ những em gặp khó khăn. Tuy chỉ ở lại một thời gian nhưng ấn tượng và bài học mà anh để lại trong lòng học sinh là những điều quý giá không phải ai cũng làm được. Các bạn còn nhớ người mà Bác đã cứu khi tham gia biểu tình không, đó là anh Tư Lê và đây chính là khoảng thời gian anh gặp lại người đó. Nhờ gặp được Tư Lê, Nguyễn Tất Thành lại một lần nữa ra đi, vào trong nam, đi tìm con đường giải cứu đất nước, thực hiện chí lớn của bản thân mà cũng là kì vọng mà cha anh để lại:

Cha tưởng con đi theo cha thì đáng buồn. Con phải tự tìm ra cho mình một hướng đi, một con đường. Đời cha không có con đường chỉ có một ngõ cụt. Cha đã không làm được điều mà mình hằng ước nguyện: vì Tổ quốc mà ngã giữa trận tiền, vì công bằng mà rơi đầu trước đám cường quyền bạo ngược… Con cứ mạnh dạn làm, một khi lòng đã quyết…

Anh ra đi lặng lẽ, chỉ để lại một lá thư xin lỗi cùng lời nhắn gửi tới các học trò nhỏ. Chí lớn của anh mang tên “ Hồn nước gọi chúng ta lên phía trước!”.

Tuổi hai mươi


Theo chân Tư Lê, anh Ba đến Sài Gòn. Nơi đây anh gặp được cụ già Đờn, cô Út – con gái ông và những người bạn ở xóm chợ. Anh không ngại khó, không ngại khổ, tự nguyện làm nghề phu vất vả chỉ để tìm được hướng đi ra một phương trời khác thực hiện ước mơ lớn. Tương lai anh tìm kiếm nhưng không vì lẽ đó mà bỏ quên thực tại, quên đi những con người đang nhiệt thành giúp đỡ mình hoàn thành ước mơ. Anh mở lớp dạy học, nơi mà “ Chữ anh Ba  thắp sáng lên trong trái tim những người thợ.”, thương cô Út không có khăn buộc tóc, anh ghé vào tiệm tạp hóa mua cho cô; thương ông già Đờn mỗi lần lên dây nhị phải lựa lựa đoạn day tơ không có nút nối và cái cần rung đã nứt dọc, anh mua thêm một bộ dây nhị và cái vĩ; anh mua thêm cả hai chai Cô-nhắc cho anh em xóm thợ;… Đó là những món quà anh dành tặng cho những người anh biết ơn trước khi người ra đi tìm đường cứu nước.

Trong những thời gian làm thợ, anh biết đến tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, anh đăng kí một chân làm bồi tàu. Trước ki đi, anh hỏi bạn mình – anh Tư Lê về việc đi cùng anh và chắc hẳn mọi người còn nhớ đúng không, câu nói nổi tiếng của Bác khi được anh Tư Lê hỏi tiền đâu mà đi.

Đây, - anh Ba giọng cương quyết, chìa hai tay ra giữa bóng đêm – tiền đây. Chúng ta sống bằng bàn tay, bằng cái đầu của chúng ta.

Trước khi đi, anh không quên đến tìm gặp cha, người đã truyền dạy anh thật nhiều thứ. Cuộc chia tay lúc này đây trở nên thật ngột ngạt và bi thương bởi trong hai người họ, ai biết, đây có phải lần cuối gặp nhau?

Anh Ba lau nước mắt, đỡ lấy tay cha, anh thốt lên:

-     Cha!

Ông phó bảng ngăn lại:

-      Đừng! Con đừng gọi cha lúc này! Con phải gọi Tổ quốc! Đồng bào! Đi…đi con!

Ngày 5/6/1911, Người ra đi tìm đường cứu nước, trên con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, mở đường cho một hành trình dài đầy gian khổ nhưng vinh quang. Con tàu rẽ sóng, rẽ ra một tương lai mới cho dân tộc, quê hương.

Lúc này đây, búp sen xanh không còn chỉ là một đứa trẻ trên con đường trưởng thành nữa mà búp sen xanh còn là cái nôi, là tiếng gọi quê hương, là một thời để nhớ, thúc giục con người ta hướng về tương lai. Đó là nguồn cội của một vĩ nhân lịch sử.


Tác giả: Hama - Bookademy

----------

Theo dõi fanpage của Bookademy để cập nhật các thông tin thú vị về sách tại link: https://www.facebook.com/bookademy.vn

Tham gia Bookademy Team để có cơ hội đọc và nhận những cuốn sách thú vị, đăng ký CTV tại link: https://goo.gl/forms/7pGl3eYeudJ3jXIE3

Xem thêm

Đây là lần thứ 2 mình đọc cuốn tiểu thuyết này, sau có lẽ hơn 20 năm cuộc đời. Cảm nhận lần đọc trước đã mờ nhạt đi nhiều, nhưng cảm xúc thì vẫn gần y như vậy. Lần đọc này mình có thể bàn luận thoải mái với mẹ, người đã dành cả thời thanh xuân đọc đi đọc lại cuốn sách này từ những lần xuất bản đầu tiên.

Cảm nhận chung về tác phẩm thì mặc dù đây là một tiểu thuyết hơi có hướng kí, tức các sự kiện, con số, con người được nhắc đến một cách rất chính xác, thì nó vẫn là một tác phẩm cực kì xúc động. Xúc động vì quãng thời gian thơ ấu chật vật vì mồ côi mẹ của cậu Nguyễn Sinh Côn, xúc động vì sự tủi nhục mà nhân dân ta phải chịu dưới ách nô lệ thực dân dưới góc nhìn của cậu thiếu niên Nguyễn Tất Thành, xúc động vì sự quên mình vì đại nghiệp, quyết tâm đi nước ngoài của anh Ba,… Tiểu thuyết cũng giải thích phần nào cho cuộc đời cống hiến của Bác, khi mà ngoài tư chất thông minh, Bác đã được lĩnh hội ý tưởng giải phóng dân tộc từ khi còn rất nhỏ khi được tiếp xúc với những sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, vốn là bạn tâm giao của cha. Một điểm đặc biệt nho nhỏ khác mà lần đọc này mình mới nhận ra là tiểu thuyết có ghi khá nhiều những câu vè, câu đối, câu hát,… mà không chỉ hay, hợp hoàn cảnh, mà còn ghi lại những ý chí, mong muốn của người dân thời bấy giờ.

Một điểm cần lưu ý, đặc biệt là khi người đọc là người lớn, đó là có một số chi tiết nhỏ trong truyện hơi bị bi kịch hoá hoặc không còn phù hợp ở thời điểm hiện tại. Ví dụ như chi tiết Nguyễn Sinh Côn nói hỗn với anh trai, bị cha mắng, rồi xin lỗi anh, mà anh trai cũng “rơm rớm nước mắt”. Hay như bữa ăn thanh đạm của thầy giáo Thành lại bao gồm “đĩa cá kho, tôm rim mặn với thịt với bát canh rau.” Đây là những chi tiết nhỏ, và chắc chắn khi cho trẻ em đọc sẽ có cảm nhận khác hẳn.


Đề cử: Tác phẩm này phù hợp với các em thiếu nhi nhất, dù mình nghĩ ai ở độ tuổi nào cũng vẫn nên đọc.

“Búp sen xanh” không đem lại cho người đọc cảm giác khô cứng khi kể lại một giai đoạn cuộc đời, nó êm ái, sâu lắng và nhiều xúc cảm. Nhà văn như làm hiện lên trong tâm trí độc giả từng cảnh vật, con người, từng nhành cây, ngọn cỏ sinh động có hồn.

Từ xưa đến nay đã có không ít các nhà văn, nhà thơ viết về Bác, về thơ Bác, về cuộc đời của Bác. Tuy nhiên, khi đến với “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng, người đọc như được đưa vào một thế giới ngập tràn xúc cảm. Ông viết về cuộc đời Bác như một áng văn trữ tình, dẫn độc giả đến với tác phẩm một cách êm dịu như hương sen thoang thoảng đầu tháng 6. Tác giả níu chân người đọc ở lại mãi qua từng câu chữ, khiến người ta lưu luyến mà tiếp tục lật giở từng trang sách, để hiểu thêm về con người, về tư tưởng của người lãnh tụ vĩ đại nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Câu chuyện mở ra với hình ảnh ông Xẩm mù ngồi ở gốc đa cùng với tốp người đi làm đồng về trong một buổi chiều khi cơn giông mùa hạ đang dần kéo đến. Tiếng hát của ông Xẩm hòa cùng với hương sen, với nỗi lo mất nước của người dân nước Việt. Chính ngày ấy cũng là lúc mà một con người vĩ đại được sinh ra, người dân làng Sen như tạm quên đi cái nỗi lo nước mất nhà tan mà vui chung niềm vui của nhà anh nho Sắc, của họ Nguyễn làng Sen. Nguyễn Tất Thành - Ngay chính cái tên Người được đặt cũng phần nào nói lên mong ước giải phóng Dân tộc của thầy nho Sắc khi từ phía đầm sen tiếng quốc kêu vang lên da diết, khắc khoải: “ Theo mong ước của tôi thì...thằng bé sẽ có chí vẫy vùng bốn bể,dù gặp truân chuyên, chìm nổi, nhưng ắt sẽ thành công”. Cái tên hay cũng như lời tiên đoán về cuộc đời của Bác. Như một lẽ đương nhiên cậu bé Nguyễn Sinh Côn càng lớn càng thông minh, sáng dạ, có không ít người bạn của cụ nho Sắc đã phải trầm trồ khen ngợi. Mấy năm sau, cụ Nho phải tên kinh thi Hội lần hai, mang cả gia đình trở vào kinh thành Huế. Lúc bấy giờ cũng chính là bước ngoặt đầu tiên trong cuộc đời Bác.
Ở tại vùng đất Kinh kỳ, Người được tiếp cận nhiều hơn với văn hóa phương Tây, với những cậu ấm cô chiêu nhà quan lớn. Cũng tại nơi này, Người mất đi hai người thân, khi mà mẹ Người sinh khó mà mất, em trai không lâu sau đó cũng qua đời. Bác lại được đưa về sống ở Làng Chùa cùng bà ngoại, khi cha Người đỗ Phó Bảng, được người ta cấp ruộng, cấp đất, Bác lại trở lại quê nội làng Sen. Không lâu sau, cụ Nguyễn Sinh Sắc buộc phải nhậm chức quan Thừa Biện Bộ Lễ ở kinh thành, Người lại một lần nữa trở vào Huế. Lúc này, Người được tiếp cận với chữ quốc ngữ, với những môn học của phương Tây, được theo học tại Trường Quốc Học. Và đây cũng là lúc mà dòng máu nóng nồng nàn yêu nước của Bác bùng lên khi lần đầu tham gia biểu tình cùng công nhân chống sưu thuế. Bác bắt đầu được gặp nhiều hơn những con người có chí hướng giải phóng Dân Tộc. Dần dần, Bác nhận thấy con đường cứu nước của những người đi trước chưa hợp lý, sức trẻ và lòng yêu nước thôi thúc Bác đi tìm đường cứu nước. Đi qua nhiều nơi, làm nhiều nghề, gần gũi với những người dân lao động, Người quyết tâm phải ra nước ngoài, xem người ta làm thế nào để về dạy cho dân mình. Nghĩ là làm, 5/6/1911, Người lên xin chân phụ bếp lên tàu qua nước Pháp.

“Búp sen xanh” không đem lại cho người đọc cảm giác khô cứng khi kể lại một giai đoạn cuộc đời, nó êm ái, sâu lắng và nhiều xúc cảm. Nhà văn như làm hiện lên trong tâm trí độc giả từng cảnh vật, con người, từng nhành cây, ngọn cỏ sinh động có hồn. Cả câu chuyện như một thước phim in dấu trong lòng người, dù bao lâu cũng nhớ mãi. Đó không chỉ là kể về cuộc đời mà còn là bài học, là tư tưởng, là con người vĩ đại mà ai cũng đều phải học hỏi. Từng nhân vật, sự kiện đều là những gì có thật, nhà văn cũng chẳng quá thi vị hay thần thánh hóa, để người đọc nhìn thấy được những gì gần gũi thân thương nhất của con người suốt đời vì dân vì nước.

Liệu tiểu thuyết và lịch sử có thể gặp nhau không?

Một cuốn tiểu thuyết viết về một nhân vật lịch sử nhưng lại không chỉ đơn thuần là lịch sử.

Một cuốn tiểu thuyết viết cho lứa tuổi thiếu nhi nhưng lại có thể làm rung động người đọc ở bất kì độ tuổi nào.

Tôi đang muốn nói tới cuốn tiểu thuyết Búp sen xanh của nhà văn Sơn Tùng viết về quãng thời niên thiếu của Bác Hồ từ khi sinh ra tại làng Sen bên ngoại đến lúc lên tàu ra đi tìm đường cứu nước.

Hễ nhắc đến chủ tịch Hồ Chí Minh thì trong mỗi người dân Việt Nam ta đều hiện ra trong đầu hình ảnh một vị cha già dân tộc giản dị mà đáng kính. Nhưng Búp sen xanh của nhà văn Sơn Tùng lại đem đến cho chúng ta những góc nhìn khác, những hình ảnh khác của vị lãnh tụ vĩ đại, gần gũi hơn, thân thương hơn mà cũng thần kỳ hơn.

Đó là một cậu bé Côn sáng dạ, thông minh nhưng cũng rất nghịch ngợm khi còn ở làng Sen bên ngoại. Cậu bé dẫn đầu đám trẻ trong làng đi phá tổ chim, trêu chó… để rồi bà hàng xóm sang tận nhà nặng lời xúc phạm khiến cậu bị cha phạt nặng. Nhưng rồi cũng chính cậu bé ấy vào một năm làng mất mùa đã lén xúc gạo nhà mình mang cho bà hàng xóm khi thấy bà đang phải ăn thân chuối cầm hơi.

Đó là một cậu bé Côn tuổi lên 10 một mình chăm sóc người mẹ bệnh nặng và em trai út mới sinh những ngày ở kinh thành Huế. Thế rồi mẹ cậu không qua khỏi, cậu phải bế em đi xin sữa của những người có con nhỏ trong làng. Đêm giao thừa năm ấy, trong khi xung quanh người người nhà nhà quây quần ấm úng thì cậu bé ấy đã cô đơn, sơ hãi đón giao thừa trong căn nhà lạnh lẽo, không còn hơi ấm của mẹ và trên tay cậu, tiếng khóc của người em trai đang đuối dần rồi tắt hẳn.

Đó là một thầy giáo trẻ nhiệt huyết dạy chữ ở trường tiểu học Dục Thanh, Phan Thiết – một vùng đất biển cực Nam Trung Bộ đầy nắng gió. Người thầy giáo ấy luôn là người đầu tiên quan tâm, lo lắng khi học trò của mình gặp chuyện, luôn là người đầu tiên buồn lòng khi học trò của mình phạm lỗi. Cái mà thầy Thành truyền đến học trò của mình không chỉ là những con chữ mà còn cả tình yêu nước, những bài học làm người, những câu truyện dân gian từ xa xưa mà thầy nghe được khi còn ở tuổi thiếu niên.

Đó là một chàng thư sinh nho nhã từ bé đến lớn chỉ quen sách đèn nhưng lại quyết tâm từ bỏ nghề dạy học để chấp nhận làm phu khuân vác tại bến Nhà Rồng đến anh phụ bếp trên tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-re-vin. Nếu ở lại, anh vẫn sẽ là một cậu ấm con quan có thể hưởng một cuộc sống an nhàn, vương giả nhưng tiếng gọi của tổ quốc đã thôi thúc anh ra đi, rời xa gia đình, rời xa quê hương, bỏ lại cả mối tình ngắn ngủi với Út Huệ – người con gái Sài Gòn vẫn hay thẹn thùng nhờ anh dạy chữ để đến với những phương trời xa lạ, đến với những nền văn minh mới, tìm ra con đường giải cứu dân tộc.

Cuốn tiểu thuyết là minh chứng cho một điều “Các bậc thiên tài không có sẵn, chính truyền thống gia đình, quê hương là khởi thủy tạo nên những tính cách đầu tiên của mỗi con người đi vào đời”. Nếu như không có một người cha nghiêm khắc, yêu nước, nếu như không có một người mẹ dịu dàng, hiền hậu, nếu như không có anh Khiêm, chị Thanh luôn ở bên đùm bọc chở che hay đơn giản nếu như thiếu đi những câu hát đờn của ông già Xẩm “Nước Nam ta sao lại có Tây…” thì có lẽ đất nước Việt Nam của chúng ta đã không thể nuôi dưỡng được một nhân cách cao quý, vĩ đại như thế.

Vẫn nhớ mùa hè năm đó, khi nhận cuốn sách từ mẹ, ấn tượng ban đầu của tôi đó là sách thật nhẹ, giấy cũng thật thơm. Không ngờ sau đó cuốn sách lại mang đến cho tôi nhiều cảm xúc đến thế. Tại sao lại yêu Bác? với tôi, có lẽ đơn giản chỉ vì “Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn” .

Trong những trang đầu tác giả đã đưa người đọc về với làng quê Xứ Nghệ với những câu dân ca, bài vè điệu hò ví dặm. Vào ngày 19/5/1890 tại nơi Làng Chùa nhòe khói sương lam, cậu bé Nguyễn Sinh Côn đã cất tiếng khóc chào đời. Khi ấy chưa ai biết rằng thời khắc đáng nhớ đó đã trở thành một mốc son lịch sử không chỉ trong gia đình thầy Nguyễn Sinh Sắc mà còn là cả của dân tộc Việt Nam. Đó chính là ngày sinh của vị lãnh tụ kính yêu mà chúng ta vẫn gọi thân thương với hai tiếng Bác Hồ.

​Đắm chìm vào những trang sách người đọc sẽ không cầm nổi nước mắt trước cuộc đời éo le của bà Hà Thị Hy- bà nội của Bác Hồ, hay những bất hạnh từ sự đói nghèo, cũng như nghị lực vượt lên số phận bằng con đường học hành của thân phụ Bác Hồ cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Nhưng xúc động nhất là hình ảnh cậu bé Côn mới 11 tuổi đã phải chứng kiến cảnh mẹ mất ở kinh thành Huế trong những ngày giáp Tết.

​“ Côn mím chặt môi, không cho bật ra tiếng khóc, càng chạy nhanh càng dồn nén nỗi đau tắc nghẹn, nước mắt trào giàn giụa, Côn lại òa lên khóc khi thấy mẹ đã thòng một cánh tay xuống bên thành giường, một tay vẫn ôm qua cổ bé Xin…Côn phủ phục xuống bên mẹ gọi me….mẹ ơi.. mẹ bỏ chúng con sao mẹ ơi..cha chưa kịp về mẹ ơi!"

​Thế là cậu bé Côn phải phải một mình bế đứa em nhỏ côi cút, bệnh tật, yếu ớt mới được vài tháng tuổi đi xin từng giọt sữa để duy trì sự sống cho em, nhưng rồi chỉ một vài ngày sau đó đứa em bé nhỏ kia cũng rời bỏ Côn mà đi. Đôi mắt thơ ngây của đứa em nhỏ như hai chấm đen ánh lên lần cuối cùng rồi chìm vào vĩnh viễn.

​Và đặc biệt để lại ấn tượng khó quên trong lòng người đọc là cuộc chia tay trên Bến Nhà Rồng vào ngày 5/6/1911 lịch sử giữa cô Út Huệ và anh Ba. Cả hai đã kịp nén những tâm sự sâu xa thầm kín, một người gửi tâm sự vào những dòng nước mắt, còn anh Ba nhìn thấy gương mặt người con gái Sài Gòn trước mắt như một búp sen quê hương và cả khuôn mặt Việt Nam choàng lấy trái tim anh.

​Các em học sinh thân mến! với tấm lòng kính yêu vô hạn đối với Bác , tác giả đã dựng lại quãng đời niên thiếu của Bác từ khi cất tiếng khóc chào đời tại làng Chùa quê ngoại cho đến khi rời Bến Cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước ở tuổi 20 đầy khát vọng.

​Trải qua bao năm tháng “Búp sen xanh" vẫn được xem là một tác phẩm hay viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ cho thiếu nhi mà còn được cả người lớn đón nhận như một món quà thiêng liêng.

​Các bạn trẻ khi trẻ khi đọc “Búp sen xanh" sẽ thấy một tấm gương sáng ngời về nhân cách về tâm hồn của chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Không những thế tác phẩm còn góp phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục, nhắc nhở động viên thế hệ trẻ Việt Nam nâng cao tinh thần trách nhiệm với vận mệnh của Tổ quốc, học tập rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho xã hội.

​Với những ý nghĩa sâu sắc đó, nhà trường mong các em học sinh sẽ tìm đọc cuốn sách Búp sen xanh để hiểu thêm về cuộc đời của vị cha già vị đại và thêm kính yêu, biết ơn Người. 

    Thưa các bạn, Hồ Chí Minh chính là một hình tượng lớn của văn học nghệ thuật, một chủ đề luôn được các nhà văn, nhà thơ, các nghệ sĩ phản ánh, tái hiện giữa nhiều khía cạnh và phương diện khác nhau của nghệ thuật. Một trong những tác phẩm thành công nhất viết về Người là tiểu thuyết Búp Sen Xanh của nhà văn Sơn Tùng. Búp Sen Xanh đưa người đọc trở về thời niên thiếu của Bác Hồ, từ lúc lúc oa oa cất tiếng khóc đầu tiên tại làng Chùa quê ngoại đến khi rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước ở độ tuổi 21 đầy khát vọng. Một tuổi thơ hạnh phúc và cũng nhiều mất mát, một cá tính hồn nhiên, trong trẻo và cũng đầy ắp suy tư. Những câu hỏi về con người, về cuộc đời, về sự tồn vong của một đất nước, một dân tộc lần lượt được đặt ra trong quá trình dần lớn lên, dần trưởng thành của Nguyễn Sinh Côn. Theo bước chân Người từ Nghệ An đến Huế, qua Phan Thiết đến Sài Gòn, đến xứ sở Nam Kỳ tự trị, khát vọng cứu nước, cứu dân, khát vọng được làm một người dân tự do của một đất nước hoàn toàn độc lập đã nung nấu qua những năm tháng ấy. Qua nhiều tác phẩm viết về Hồ Chí Minh, đặc biệt qua Búp Sen Xanh, nhà văn Sơn Tùng đã bộc lộ những suy tư của một người cầm bút, một người công dân trước đề tài và nhân vật lịch sử. Cái nhìn biện chứng giữa con người và truyền thống lịch sử đã giúp nhà văn không chỉ miêu tả thành công một tính cách sinh động thuở hình thành nhân cách vĩ nhân mà còn đưa người đọc trở về với những dấu ấn nóng bỏng của một giai đoạn, những phong tục tập quán, những nét văn hóa cao đẹp của một thời. Thấy cây và thấy cả rừng, thấy quả và thấy cả nhân, thấy nhân cách vĩ đại và cũng thấy cả những nét bình thường gần gũi của Bác. Qua cuốn tiểu thuyết, ta không chỉ thấy Nguyễn Tất Thành là kết tinh của một nền văn hóa mà còn thấy rõ lớp người trước, lớp người sau với những khát vọng cuộn sóng của cả một dân tộc đang khao khát tìm ra con đường giải phóng cho chính mình.

    Bác sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho nghèo, thời thơ ấu của Bác cũng như bao người, cũng là một đứa trẻ nghịch ngợm, luôn ở trong lớp đầu têu những trò quậy phá, trèo mái nhà phá tổ chim, trèo cây hái quả, ghẹo chó nhà hàng xóm hay rủ cả lớp đang học đi câu cá. Tất cả những việc đó Bác đều trải qua, nhưng có lẽ chính nhờ những lần nghịch dại ấy cùng một tuổi thơ đầy vất vả mà Bác đã trưởng thành, chín chắn hơn. Suốt những năm tháng thơ ấu, bà ngoại, thầy, u, anh chị, bạn bè, hàng xóm là những người gắn liền với Bác, họ chính là những tác động tích cực tạo nên nhân cách của một vĩ nhân lịch sử. Trong số những người kể trên, có lẽ cha là người ảnh hưởng tới Bác nhiều nhất, thân phụ Bác là ông Nguyễn Sinh Sắc, vốn là một quan phó bảng đỗ kỳ thi Hương, dù làm quan nhưng cả đời ông luôn hướng tới một cuộc sống giản dị, tự do tự tại, bốc thuốc cứu người, luôn vì hai chữ “thanh liêm” mà sống, tất cả vì nhân dân. Ông luôn răn dạy các con của mình phải chăm chỉ đọc sách, bởi sách là nhãn tự của cuộc sống. Đối với những trò nghịch ngợm của đứa con trai Nguyễn Sinh Côn, ông luôn nghiêm khắc nhưng cũng dịu dàng giải thích lý lẽ cho con hiểu:

    “Con đã thuộc bài, các bạn của con chưa thuộc mà con rủ các bạn đi câu cá là phạm lỗi. Cái lỗi của con là: con chỉ nghĩ phần mình đã xong, không nghĩ đến phần của người khác, như vậy là ích kỷ. Con đã rõ chưa?”

    Hay: “Côn! Vì đang ở trên đường, nếu ở nhà thì cha đã bắt con nằm xuống đánh mười roi vì tội bất lễ. Anh con có nói sai, xử sự sai với con thì đã có cha phân xử, hoặc con phải nói với anh bằng một thái độ lễ phép. Con không được nói với anh câu nói của một nhà vô giáo dục như vậy. Con khoanh tay xin lỗi anh con đi.

    Ông dạy con thật nhiều mà hy vọng vào con lại càng lớn, hy vọng vào con đường con đi, hy vọng rằng con sẽ thay cha thực hiện ước nguyện của ông đã bỏ lỡ. Chính nhân cách cao đẹp của người cha Nguyễn Sinh Sắc đã tác động lớn đến con đường ra đi tìm cứu nước của Bác.

    “Sự suy nghĩ của con cũng giống sự suy nghĩ của cha về công cuộc cứu nước, cứu dân. Người xoay chuyển được cuộc thế có lẽ… lớp các con chứ lớp ông nghè, ông cử như cha không gánh nổi đâu. Âu đành... Mặc khách tâm minh Chung Sơn thạch, bất bình sự phó Cả giang lưu.”

    Không chỉ có cha mà mẹ cũng là người có ảnh hưởng không nhỏ đến Bác, thân mẫu của Người là bà Hoàng Thị Loan - một người phụ nữ luôn hết lòng ủng hộ, thương yêu, hy sinh vì chồng con. Nuôi con từ những lời ru à ơi, bà luôn dạy các con rằng: Chữ là mắt, người không có chữ coi như người mù ở thế gian. Nếu như cha là người dạy bé Côn kiến thức vào đời, rèn luyện cho Côn những đức tính cao đẹp thì mẹ chính là người bồi đắp cho con một trái tim tràn đầy tình thương. Tuy ra đi ở tuổi đời còn trẻ nhưng những gì bà mang đến cho Người không chỉ là một tình mẫu tử thiêng liêng mà còn là nhân cách và những bài học làm người giá trị để mà từ đó hoàn thiện lên một tâm hồn vĩ đại. Bên cạnh cha mẹ, xung quanh Bác còn có rất nhiều người đáng quý, họ là bà ngoại, anh chị, bạn bè, hàng xóm - những con người không có nhiều quyền thế nhưng hết mực yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, họ là những nhà cách mạng, những người bạn của cha bé Côn. Có lẽ chính nhờ sự xuất hiện của những con người ấy mà ngay từ nhỏ, Côn đã mang một nhân cách thật đẹp, đã được tiếp xúc với những con đường cứu nước, để từ đó có những suy ngẫm về vận mệnh đất nước, dân tộc. Tuy yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lớn đến con người và nhân cách của vị lãnh tụ vĩ đại nhưng đó là chưa đủ, yếu tố chính tạo nên một vĩ nhân lịch sử sau này nằm ở chính sự nghị lực và kiên cường trong Bác, những năm tháng ấu thơ tuy nghịch ngợm nhưng cũng rất chăm chỉ, chịu khó, biết nghe lời, yêu thương mọi người và lập trường quan điểm chín chắn, không khó để nhìn thấy sự nghị lực trong Bác trong những ngày tháng vô cùng khó khăn, khi mà mất mẹ, một mình nuôi em, theo cha sống xa quê những ngày còn bé. Bác luôn không ngừng học hỏi với một trái tim tràn đầy yêu thương, để từ đó tự trưởng thành và sống với nhân cách đáng ngưỡng mộ, giống như cái tên của mình - loài cá hóa chim bằng. Với cái tuổi lên mười, Côn đã phải nấu cháo, sắc thuốc, chăm sóc bệnh tình của mẹ. Hằng ngày, Côn còn phải bế em sang nhà hàng xóm, xin những bà mẹ đang nuôi con thơ cho em được bú nhờ. Cái cảm giác sợ hãi đã bay biến khi nỗi cô đơn bao trùm về tâm trí Côn lúc cả kinh thành bay lên theo tiếng pháo hoa giao thừa. Côn phải dỗ em bằng kẹo, bánh của bạn đến cho. Tuy em Xin chưa biết nói nhưng Côn vẫn trò chuyện với em như nó đã tiếp nhận được mọi điều.

    Thời thơ ấu của Người là vậy, qua ngòi bút của nhà văn Sơn Tùng, Bác Hồ thời niên thiếu hiện lên với nét thông minh hơn người, bản lĩnh độc đáo nhưng không phải là thần đồng bẩm sinh mà là quá trình tự rèn luyện, học tập, tu dưỡng, tiếp thu tinh hoa dân tộc, phát triển và xây dựng những tư tưởng chính trị đầu tiên, thấm nhuần lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc. Dọc theo hành trình từ thuở ấu thơ tới thời niên thiếu, nhà văn luôn nhấn mạnh việc đọc sách của người. Văn hóa đọc cùng với niềm đam mê đọc sách không chỉ mở mang vốn hiểu biết, tri thức của người thiếu niên Nguyễn Tất Thành về con người, cuộc sống, xã hội, mà còn về tình cảm, cũng như về chính trị trong nước và cả trên thế giới, từ đó hình thành cốt cách trong con người Bác, điều khiến cả thế giới phải nghiêng mình. Học rộng, biết nhiều, lối suy nghĩ của người thiếu niên Nguyễn Tất Thành cũng rất đỗi xấu xa. Cậu Côn phân biệt rõ ràng giữa việc học tiếng Pháp với việc bị khuất phục trước thực dân. Học tiếng Pháp là để hiểu về người Pháp, hiểu về xã hội Pháp, hiểu về chính trị của thực dân và cả những mảnh đời, số phận ở “đất nước hình lục lăng”, từ đó tìm ra con đường cứu nước, “biết mình biết ta trăm trận trăm thắng”. Người biết ơn những người bạn đã bên cạnh giúp đỡ mình lúc khó khăn, Người uất hận thay cho đức vua Thành Thái thà bị đẩy ải phương xa chứ nhất quyết chẳng chịu vui chi bệ ngọc ngai vàng riêng ta. Người xót thương cho dân đen nghèo hèn bị đè đầu cưỡi cổ, Người dùng chính tiếng Pháp, học được từ người của đế quốc thực dân để hô vang khẩu hiệu biểu tình giảm thuế, bớt sưu, một đòn giáng vào tư tưởng hão huyền muốn đồng hóa người Việt của thực dân. (Bản án chế độ thực dân Pháp, tiếng Pháp: Le Procès de la colonisation française).

    Người trân trọng tinh thần dân tộc, ý chí quật cường, dũng cảm của người biểu tình, ôm đầu máu chạy được một đoạn rồi ngã gục xuống vệ đường. Hành động xé áo, lau máu trên mặt nạn nhân thể hiện nỗi xót xa giọt máu, sinh mệnh đồng bào trong người lúc bấy giờ. Ngay cả khi trở thành một người thầy dưới mái trường Dục Thanh, Người vẫn không ngừng truyền cho lớp trẻ không chỉ là cái chữ, vốn hiểu biết mà là cả tinh thần dân tộc, lòng yêu nước cũng như ý chí mạnh mẽ trong mọi hoàn cảnh. Thầy Thành yêu trẻ kính già, chàng thanh niên thấu được lòng dân, nỗi ai oán của người nghèo, từ đó càng tu luyện ý chí quyết tâm tìm đường cứu nước trong lòng Bác. Người thầy rời khỏi mái trường vẫn không quên dặn dò những cô cậu học trò nhỏ học tập đọc sách và cả lời kêu gọi hào hùng “Hồn nước gọi chúng ta tiến lên phía trước”. Thông qua câu chuyện, nhà văn Sơn Tùng cũng nhắn nhủ tới lớp trẻ về tầm quan trọng của việc đọc sách, những bài học về lòng biết ơn, tình yêu nước, thương dân vô hạn và ý chí sống mạnh mẽ như Bác chúng ta đã từng. Lời kêu gọi của Bác không chỉ dành cho lũ học trò nhỏ ngày ấy mà còn dành cho cả chúng ta - những thế hệ người Việt ngày hôm nay và mai sau rèn luyện, bồi dưỡng bản thân trở thành những người con ưu tú của đất nước đang gọi tên.

    Trải qua thời niên thiếu ở tuổi 20 tại vùng đất Kinh Kỳ, Bác Hồ được tiếp cận nhiều hơn với văn hóa phương Tây với những cậu ấm, cô chiêu nhà quan lớn. Cũng tại nơi này, Người mất đi hai người thân yêu, khi mẹ Người sinh khó mà mất, em trai Người không lâu sau đó cũng qua đời. Ít lâu sau, Bác lại một lần nữa trở vào Huế, lúc này Người được tiếp cận với chữ Quốc ngữ, với những môn học của phương Tây, được theo học tại trường Quốc Học Huế. Đây cũng là lúc mà dòng máu nồng nàn yêu nước của Bác bùng lên khi lần đầu tham gia biểu tình của công nhân chống sưu thuế. Bác bắt đầu được gặp nhiều hơn những người có ý chí giải phóng dân tộc, dần dần Bác nhận thấy con đường cứu nước của những bậc tiền bối đi trước là chưa hợp lý. Cùng với sức trẻ và lòng yêu nước đã thôi thúc Bác ra đi tìm đường cứu nước, đi qua nhiều nơi, làm nhiều nghề, gần gũi với những người dân lao động, Người quyết tâm phải ra nước ngoài xem người ta làm thế nào để về dạy cho dân mình. Nghĩ là làm, vào ngày mùng 5 tháng 6 năm 1911 anh chàng thư sinh mảnh khảnh Nguyễn Tất Thành đã chào tạm biệt cô Út Huệ - người mà Bác yêu thương vô cùng. Dứt áo ra đi, quyết tâm xin bằng được chân phụ bếp lên tàu qua nước Pháp chỉ với hai bàn tay trắng, không hẹn ngày trở về. Tư duy của Người vượt trước thời đại, với ý chí nghị lực và quyết tâm sắt đá, Nác đã quyết định ra đi, hy sinh tình cảm cá nhân vì vận mệnh cả dân tộc. Đó chính là những điều chúng ta chỉ có thể thấy được của một vĩ nhân, một vị anh hùng mang sứ mệnh giải phóng dân tộc.

    Khi lần đầu tiên đọc xong cuốn sách, tôi mới nghiền ngẫm và chiêm nghiệm rằng, có một vài chi tiết trong cuốn sách mà cho đến tận bây giờ và chắc là mãi mãi về sau, cứ mỗi lần tôi nhớ đến thì như có một luồng điện chạy khắp người làm tôi xúc động đến mức tê dại.

    Giữa kinh thành Huế xa lạ, trong khi cha bận đi chấm thi ở ngoài Bắc, anh Khiêm và chị Bạch Liên (Nguyễn Thị Thanh) đang ở quê, thì một mình cậu bé Nguyễn Sinh Cung hơn mười tuổi ấy, tay vừa bế đứa em còn đỏ hỏn, vừa nước mắt ngập tràn nhìn thi thể mẹ hiền mà không biết phải làm sao?

    Đến năm 16 tuổi, khi chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành được cụ Đặng Thái Thân thuyết phục tham gia phong trào Đông Du, Người đã khéo léo từ chối rằng việc tham gia phong trào (chính xác hơn là đi theo con đường của cụ Phan Bội Châu) là chưa hợp lý, việc nhờ Nhật đánh Pháp thì cũng chẳng khác gì nhờ sói đuổi cọp, khi nó đuổi xong thì nó cũng quay sang ăn thịt mình mà thôi. Một tinh thần độc lập tư tưởng tuyệt vời, nhìn nhận những vấn đề mang tính thời đại, mang tầm vóc trọng đại quốc gia một cách rất biện chứng và khoa học, thể hiện một tư chất thông minh thiên bẩm, một sự nghiền ngẫm sâu sắc từ một con tim khát khao cống hiến cho đồng bào, cho Tổ quốc và một bộ óc minh triết của chàng thanh niên chưa đầy hai mươi, với dáng vóc mảnh khảnh nhưng luôn sôi sục bầu máu nóng.

    Trên con đường đi vào phương Nam để tìm cơ hội ra nước ngoài, Bác Hồ biết là có thể chuyến đi này sẽ không có ngày trở về nên Người muốn ghé vào vấn an cha già đang làm quan ở huyện Bình Khê (Bình Định), cũng là để từ biệt cha lần cuối. Khi thấy hình bóng người con trai yêu quý mà cụ Nguyễn Sinh Sắc đã đặt rất nhiều niềm tin và kỳ vọng, cụ đã nén nỗi xúc động vào lòng mà thay bằng thái độ nghiêm nghị, lạnh lùng và hỏi: “Nước mất rồi không lo đi cứu nước, đến gặp cha làm gì?”. Đã là người, ai cũng có nỗi lòng sâu nặng với gia đình, nhưng cụ Nguyễn đã biết dạy cho con thấy rằng, quốc phá gia vong, khi nước mất thì nhiệm vụ của kẻ làm trai phải biết đặt nợ nước lên trên tình nhà.

    Cuối cùng là chi tiết lúc Người đến Bến cảng Nhà Rồng và chung sống với những người đồng bào đang làm phu khuân vác ở đây. Người rất thích nghe ông Tư Đờn (cha ruột của cô Út Huệ, mối tình đầu tiên của Bác) đánh đàn bầu. Bằng tấm lòng trong sáng, sâu nặng nghĩa tình, Người đã cảm hóa những cái nhìn hiểu lầm ban đầu và đã dạy học cho họ, khi chia tay, người có nói với anh Tư Lê (một người bị thương trong cuộc chống thuế ở Huế trước đó đã được Bác giúp đỡ và trở thành bạn thân của Người) rằng, chỉ cần có đôi bàn tay là có thể đi ra nước ngoài để tìm hiểu về kẻ thù của mình, để tìm con đường đi cho dân tộc. Chi tiết này thực sự là đắt giá! Quả đúng như binh pháp Tôn Tử có nói, biết người biết ta, trăm trận trăm thắng. Muốn thắng Pháp thì phải hiểu Pháp...

    Nhà văn Sơn Tùng đã từng bộc bạch rằng: “Trong cuộc đời của mỗi người, giai đoạn từ tuổi niên thiếu đến khi trưởng thành rất quan trọng, bởi đây là giai đoạn hình thành nhân cách tâm hồn của mỗi con người”. Các bạn trẻ khi đọc Búp Sen Xanh sẽ thấy một tấm gương sáng ngời về nhân cách, tâm hồn của chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Bằng lối hành văn giản dị, trong sáng, tiểu thuyết không hề đem lại cho người đọc cảm giác khô cứng khi kể về một giai đoạn cuộc đời mà trái lại, nó êm ái, sâu lắng và nhiều xúc cảm. Nhà văn như làm hiện lên trong tâm trí độc giả từng cảnh vật, con người, và cả những cành cây ngọn cỏ cũng trở nên sinh động, có hồn. Cả câu chuyện như một thước phim in dấu trong lòng mỗi bạn đọc, dù bao lâu cũng nhớ mãi. Đó không chỉ là kể về cuộc đời mà còn là bài học, là tư tưởng, là con người vĩ đại mà ai cũng đều phải học hỏi, từ nhân vật sự kiện đều là những gì có thật, nhà văn cũng chẳng quá thi vị hay thần thánh hóa để người đọc có thể nhìn thấy được những gì gần gũi, thân thương nhất của con người suốt đời vì dân vì nước. Đọc những cuốn sách hay, ta sẽ nhận ra được giá trị đích thực của cuộc sống để vươn tới chân - thiện - mỹ để sống đẹp, sống có ý nghĩa hơn. Vậy thì đừng chần chừ, lãng phí thời gian thêm nữa, bạn hãy làm đẹp tâm hồn mình, hãy đến với những khám phá mới mẻ, thú vị, bất ngờ, bổ ích đang chờ đón bạn với tác phẩm Búp Sen Xanh của nhà văn Sơn Tùng nhé!

5 điểm

Nghẹn ngào bởi lời gửi gắm niềm tin của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc cho Người: “Nước mất, con lo tìm đường cứu nước, cha rất mừng. Con đi vì mục đích lớn. Con có thể thực hiện được cái điều mà cha và lớp người như cha phải bó tay”. Tôi thổn thức trước câu nói của người cha ấy khi tiễn con xuất dương tìm đường cứu nước: “Đừng! Con đừng gọi cha lúc này! Con phải gọi: Tổ quốc! Đồng bào! Đi… đi con!”. Chấp nhận sự đánh đổi lớn lao như vậy vì trong trái tim vĩ đại kia là lòng yêu nước nồng nàn, là ham muốn rực cháy đưa dân tộc khỏi xiềng xích, là tiếng vẫy gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Chính sự che chở, yêu thương của gia đình, quê hương, của hàng xóm, của bè bạn, sự nghiêm khắc của cha, sự tảo tần của mẹ, sự đùm bọc của “chị Thanh”, “anh Khiêm” đã nuôi dưỡng nên một vĩ nhân lịch sử. Bởi vậy, Sơn Tùng viết: “Các bậc thiên tài không có sẵn. Chính truyền thống gia đình, quê hương là khởi thủy tạo nên những tính cách đầu tiên của mỗi con người và đi vào đời…”. “Búp sen xanh” giúp tôi thấm thía hơn giá trị của gia đình, giúp tôi thêm yêu nơi tôi oa oa cất tiếng khóc đầu đời, nơi tôi lớn lên trong vòng tay ấm áp, sự dưỡng dục, dạy dỗ, nơi từng cành cây ngọn cỏ mái nhà cũng khiến tôi thấy thân thương và bình yên đến lạ và càng trân quý hơn những điệu hồn thiêng liêng của văn hóa truyền thống dân tộc. Và cứ như vậy, tôi đã yêu “Búp sen xanh” tự lúc nào không hay. Một tình yêu đặc biệt… “Búp sen xanh” đáng đọc bởi những dư vị đẹp đẽ, những bài học cao cả, giá trị thiêng liêng mà cuốn sách gửi gắm. Trong đó là cả một trái tim vĩ đại, một tấm lòng mênh mông, một nhân cách cao đẹp khiến nhà thơ Tố Hữu phải thốt lên:

“ Bác ơi, tim Bác mênh mông thế

Ôm cả non sông, mọi kiếp người ” 

“Búp sen xanh” chân thật vì những sự kiện đều chính xác, không pha lẫn truyền thuyết. Nó có thể không khiến bạn đắm chìm trong những ngôn từ ngọt ngào như những bộ thanh xuân trong trẻo , cũng có thể chẳng đem đến cho bạn nhiều kỹ năng, triết lí như “sách Tự Lực” nhưng tôi tin rằng bạn sẽ không bao giờ hối hận khi yêu cuốn sách này. Hy vọng rằng mỗi chúng ta sẽ sống mạnh mẽ, sống yêu thương, sống nhiệt huyết như những búp sen xanh…

“Búp sen xanh” được nhà văn Sơn Tùng chắp bút trong khoảng thời gian từ năm 1948 đến 1980 khắc họa những nét lịch sử, biến cố thăng trầm của cuộc đời Bác từ thời thơ ấu đầy cơ cực còn là một cậu bé thông minh, tinh nghịch, biết cảm thông với những mảnh đời bất hạnh đến chàng trai trẻ rời bến cảng Nhà Rồng với hoài bão vĩ đại tìm ra con đường cứu nước, đưa dân tộc thoát khỏi vòng nô lệ. Ngay từ khi cầm cuốn sách trên tay tôi đã bị ấn tượng bởi nhan đề “Búp sen xanh”. Nó ẩn dụ cho tuổi thơ, thời niên thiếu của Bác, cho màu xanh của sức sống, sức trẻ, cho niềm tin, hy vọng, sự thanh cao, giản dị và dân dã dù trong cảnh “hôi tanh mùi bùn” nhưng vẫn “ rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, ngát hương. Ở “Búp sen xanh” là những gì chân thật, gần gũi, thân thương mà cũng vĩ đại, thiêng liêng nhất về Người. Tôi mỉm cười vì thấy đâu đó bóng dáng tuổi thơ nghịch ngợm của chính mình khi đọc câu chuyện cậu bé Côn thường rủ bạn bè trêu chó khiến chúng sủa om sòm để rồi bị người cha mực thước phạt nghiêm. Tôi lặng người xúc động bởi tình người của những người thợ xóm Chiếu Sài Gòn làm phu khuân vác, tình làng nghĩa xóm của cậu bé Nguyễn Sinh Côn vào năm mất mùa đã lén xúc gạo nhà mình đem cho bà hàng xóm phải ăn thân chuối cầm hơi, của những người hàng xóm giúp đỡ đưa tang, ai cũng muốn đón anh em Côn về ở với mình vì xót thương hoàn cảnh côi cút mất mẹ, cha lại ở xa. Tôi đã nghẹn ngào bởi một cậu bé lên 10 “đầu đội khấu rơm, mặc áo đại tang, chống gậy, chân đất, đi sau quan tài mẹ” rồi gục đầu vào nắp áo quan, toàn thân run lên vì khóc nấc. Tôi đã nghẹn ngào bởi trong ngôi nhà hoang vắng trong cái cảm giác sợ hãi, cô đơn những đêm đầu vắng mẹ ở thành nội, bé Xin nhớ hơi mẹ, thèm sữa gào khóc, không dỗ được em, Côn khóc luôn với em. Nghẹn ngào bởi cái tình, cái tâm thầy Thành truyền cho học trò trường Tiểu học Dục Thanh, Phan Thiết, bởi nghị lực, nhân cách cao đẹp của chàng trai Nguyễn Tất Thành khi chấp nhận rời bỏ quê hương, gia đình, bỏ lại cái tình cảm trong trẻo chớm nở với người con gái Sài Gòn Út Huệ để đối mặt với giông tố, khó khăn nơi đất khách quê người, từ bỏ nghề dạy học để làm công việc khuân vác cực khổ ở Bến cảng Nhà Rồng, làm phụ bếp trên tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin.