REVIEW MỚI NHẤT
“Bay lên từ những điều không tưởng”
Chuyện con mèo dạy hải âu bay của Luis Sepúlveda là một tác phẩm ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa, mang đến cho người đọc một hành trình đầy cảm xúc về tình thương, lòng trung thành và niềm tin. Câu chuyện bắt đầu khi mèo Zorba tình cờ gặp một con hải âu mẹ sắp qua đời, để lại cho nó quả trứng cù... Xem thêm
Là một giáo viên dạy trẻ đặc biệt, mình đồng cảm sâu sắc với nỗi đau của cha mẹ có con khuyết tật, nỗi băn khoăn, lo lắng của cha mẹ dành cho đứa con của mình. Không phải lúc nào cũng ngập tràn tình yêu như xã hội mong đợi, đôi khi còn ... Xem thêm
Là một giáo viên dạy trẻ đặc biệt, mình đồng cảm sâu sắc với nỗi đau của cha mẹ có con khuyết tật, nỗi băn khoăn, lo lắng của cha mẹ dành cho đứa con của mình. Không phải lúc nào cũng ngập tràn tình yêu như xã hội mong đợi, đôi khi còn có cả sự phó thác cho số phận vì đã quá sức chịu đựng. Đó là lý do cuốn sách “Ba ơi, mình đi đâu?” khiến mình cảm động sâu sắc như thế.
Jean-Louis Fournier không viết về tình phụ tử như một điều vĩ đại mà viết về một tình thương rất thật của một người cha có hai đứa con tật nguyền. Ông là một tác giả nổi tiếng với những tác phẩm trào phúng và đạo diễn phim truyền hình. Ở tuổi 70, ông viết tác phẩm “Ba ơi, mình đi đâu?” và đạt giải Fémina 2008. Với lối viết văn hài hước nhưng cô đọng, ông kể về 2 cậu con trai tật nguyền của mình. Qua những câu văn ngắn tưởng chừng có thể bật cười, ông thể hiện nỗi tuyệt vọng sâu sắc về "số phận" của mình cũng như hai đứa con bé bỏng. Ông dùng sự trào phúng để nói về nỗi đau, dường như đó là cách duy nhất ông có thể làm để đối diện với nó. Bởi khi nỗi đau quá lớn, nó ép con người ta đến mức phải chai lì.
Ngày tận thế của những người làm cha mẹ
“Những ai chưa từng sợ có một đứa con bất thường hãy giơ tay.
Chẳng có ai giơ tay cả.
Mọi người đều nghĩ đến chuyện đó, như nghĩ đến một trận động đất, như nghĩ đến ngày tận thế, thứ gì đó chỉ xảy ra một lần.
Tôi có tới hai ngày tận thế.”
Nỗi sợ có một đứa con tật nguyền có lẽ tồn tại ở mọi bậc cha mẹ. Người ta nghĩ về nó như một ngày tận thế có thể khiến cả thế giới sụp xuống. Còn với Jean-Louis Fournier, ông có hẳn hai ngày tận thế khi cả hai đứa con bé bỏng của ông đều là những đứa trẻ tật nguyền.
Người ta ca ngợi tình yêu vĩ đại của những cha mẹ có con khuyết tật như những thiên thần yêu thương con vô điều kiện. Dù đứa trẻ có ngu ngốc, quậy phá cỡ nào đi chăng nữa, những thiên thần ấy cũng sẽ dang rộng vòng tay với sự kiên nhẫn vô hạn dành cho đứa con của mình. Còn ở Jean-Louis Fournier, ta sẽ thấy tình thương không hề được cảm động hoá hay nhân văn hoá. Ông rất yêu con của mình nhưng cũng không thể tránh khỏi những lúc tuyệt vọng đến mức muốn được từ chối hai "món quà" này đến từ thượng đế.
Và tất nhiên là ông không thể.
Hai “ngày tận thế” mang tên Mathieu và Thomas
Mathieu và Thomas đều là những đứa trẻ tật nguyền, cả thể chất lẫn tinh thần. Chúng vĩnh viễn không bao giờ phát triển bình thường. “Mắt của Mathieu tội nghiệp nhìn không rõ, xương lại yếu, chân thì khoèo và nó nhanh chóng bị gù, tóc tai nó bờm xờm, nó không xinh xắn gì và đặc biệt, nom nó thật u buồn”. “Thằng bé không thể giữ cho đầu mình thẳng được, như thế cổ nó cấu tạo bằng cao su vậy”. Thomas cũng như anh của nó. Khi lớn dần, chúng gù lưng như thể những cụ già chỉ dành cả đời để nhặt củ cải trên các cánh đồng. Chúng không thể tự đứng thẳng và cũng không thể tự lo cho bản thân, bởi chúng “có rơm trong đầu” và “bộ não chúng cũng như não chim”. Mathieu dành cả đời để ném bóng và đi tìm quả bóng. Ở tuổi 15, thằng bé gù đến mức không thể nhìn thấy bầu trời. Và ca phẫu thuật giúp thằng bé nhìn thấy bầu trời đã thành công, thằng bé chết trong tư thế đứng thẳng. Thomas thích ôm hôn tất cả mọi người trong mọi hoàn cảnh, thích nhai tóp tép con gấu bông, lúc nào cũng phát ra âm thanh "brừm brừm". Thằng bé thích hỏi “Ba ơi, mình đi đâu?” đến cả một trăm lần, như thể chính thằng bé cũng không hiểu mình đang tồn tại giữa thế giới này để làm gì.
Chỉ một đứa con khuyết tật đã khiến cha mẹ lo lắng không thôi, Jean-Louis Fournier thì phải chịu nỗi đau ấy gấp hai lần. Hai đứa trẻ được sinh ra trong niềm hy vọng vô bờ bến, và cũng là nỗi tuyệt vọng không gì có thể khoả lấp được.
Tình yêu ở một hình hài khác
Ông rất yêu những đứa con của mình. Đó là lý do cuốn sách này ra đời. “Để không ai quên được các con, để các con không chỉ hiện hữu trên một bức ảnh trong tấm thẻ chứng nhận tật nguyền.” Có lẽ ông không muốn Mathieu và Thomas chỉ đến trái đất này rồi rời đi như thế mà không để lại điều gì cả. Ông viết về các con để chúng tiếp tục tồn tại, dù chỉ trong những trang sách. Tình yêu của ông dành cho các con không phải luôn đẹp đẽ và cao cả như những gì người ta thường ca ngợi, mà đó vừa là tình thương của một người cha dành cho con, lại vừa bất lực, vừa đau đớn khi không thể thay đổi thực tại.
Ông yêu con theo cách riêng của mình. Ông không nói lời yêu vì các con của ông không thể nghe thấy, chúng bị điếc. Ông cũng không cố tự lừa dối bản thân để yêu các con của mình. Chúng không đáng yêu như những đứa trẻ khác. Chúng xấu xí, chúng phiền phức, chúng khiến ông kiệt sức và ông chấp nhận điều ấy. Ông không giống như hình mẫu một người cha lý tưởng, luôn mạnh mẽ, luôn vui vẻ yêu thương con dù chúng có khác biệt thế nào đi chăng nữa. Nhưng ông vẫn luôn ở đó, ông vẫn chưa từng rời bỏ con mình. Có lẽ tình yêu của ông nằm chính trong sự hiện diện âm thầm nhưng bền bỉ đó.
Yêu thương và tuyệt vọng
Dù thế, ông cũng chỉ là một con người bình thường. Ông ghen tị với những gia đình có đứa con xinh đẹp, ông ghen tị khi xem những bức ảnh gia đình hạnh phúc, ai cũng cười thật tươi. Còn ông thì chẳng còn muốn cười nữa. Ông không cố trở thành người bố tuyệt vời trong mắt mọi người, ông thừa nhận sự mệt mỏi và bất lực của mình: “Thường thì ba không chịu nổi các con”, “Với các con, cần phải có lòng kiên nhẫn vô tận của một thiên thần, mà ba thì không phải thiên thần”. Ông thậm chí tự nhạo báng con của mình: “những người ngoài hành tinh”, “những chú yêu tinh bé bỏng”. Có lúc, ông cảm thấy có lỗi vì đã đưa các con đến thế giới với hình hài như vậy. Nếu chúng biết cuộc đời mình chỉ để chịu khổ, có lẽ chúng không muốn được sinh ra.
Ông cũng không hiểu vì sao Chúa lại ban cho mình “đặc ân” ấy. Khi người ta gọi đó là món quà từ Thượng đế, ông chỉ muốn đáp lại: “Ôi, không cần phải…”. Món quà của Chúa thật quá đỗi bất ngờ với ông.
Trong những khoảnh khắc kiệt sức nhất, ông thậm chí từng nghĩ đến việc các con biến mất khỏi cuộc đời mình. “Trong đêm tối, tôi có nguy cơ lạc mất bọn trẻ và không bao giờ gặp lại chúng nữa. Có lẽ đó chính là điều kỳ diệu chăng?”.
Thi thoảng, ông có những ý nghĩ tưởng chừng như điên rồ bởi quá bất lực trước số phận của mình. Có khi, ông nghĩ đến việc đặt chiếc ống thụt (để thông tắc) lên đầu bọn trẻ và nhấc chúng qua suối, việc này dễ hơn nhiều so với việc bế chúng. Hoặc chờ khi chúng lớn lên, ông tặng mỗi đứa một chiếc dao cạo hình thanh đoản kiếm, nhốt chúng trong phòng tắm để chúng tự xoay xở. Ông cười để xua đi ý nghĩ đen tối khi hỏi cô Josée “tại sao cô lại quẳng bọn trẻ qua cửa sổ?”, “tại sao cô lại treo Thomas lên mắc áo?”. Không dưới một lần ông có ý nghĩ muốn kết liễu bản thân cùng những đứa trẻ. Trên chiếc xe Camaro cùng Thomas, ông nghĩ đến việc đâm thẳng vào tường, đi xuống địa ngục… Nỗi đau quá lớn lúc nào cũng trực chờ để đánh gục ông, đánh gục tình yêu thương và hy vọng vào tương lai của một người cha dành cho các con của mình.
Với nỗi đau quá lớn đến mức không thể vượt qua, ông không còn cách nào khác ngoài việc cố gắng trở nên hài hước để an ủi bản thân. Với những câu văn ngắn gây cười, ông bộc bạch hết những cung bậc cảm xúc của mình. Ông rất vui mừng khi chúng được sinh ra, và cũng như bị rút hết sinh khí vào ngày số phận được phán xét.
Ông ước gì các con của ông chỉ đang đóng kịch thôi. Về đêm, chúng trở nên thông minh, uyên bác, là nhà bác học, nhà nghiên cứu. Ngày đến, chúng lại trở về với vẻ ngoài tật nguyền để được yên ổn và không ai quấy rầy.
Trong giấc mơ của ông, các con trở nên bé xíu và dễ thương. Dù đã mười tuổi, chúng chỉ cao hai centimet, khiến ông phải lục tung túi áo, thậm chí là một bao diêm để tìm. Hai sinh mệnh mỏng manh ấy thậm chí có thể biến mất qua lỗ thoát nước, chết đuối trong chậu, hoặc bên dưới một chiếc lá rụng vào mùa thu.
Có lẽ cũng như bao phụ huynh khác, ông ước gì những chuyện xảy ra chỉ là giấc mơ… “Mới đây, tôi gặp một chuyện rất xúc động. Mathieu đã say sưa đọc một cuốn sách. Tôi lại gần, vô cùng hồi hộp. Nó cầm quyển sách ngược”.
Khi tình yêu và nỗi đau không còn ranh giới
Xuyên suốt cuốn sách, sự đau đớn đến bình thản của tác giả là thứ khiến mình ám ảnh không thôi. Không thể lựa chọn, không thể thay đổi số mệnh, ta chỉ có thể chấp nhận chúng đến với đời như một món quà, hoặc như một hình phạt. Điều đau đớn nhất có lẽ không phải là sinh ra một đứa trẻ tật nguyền, mà là phải tiếp tục sống cùng nỗi đau ấy mỗi ngày.
Ở Jean-Louis Fournier, mình thấy những cảm xúc chân thật nhất của bậc cha mẹ có con tật nguyền. Đó là tình yêu thương xen lẫn sự bất lực, tuyệt vọng. Không cần cố gắng giả vờ hạnh phúc mà là những cảm xúc vô cùng đời thường. Ông không “nhân văn hoá” hay “đạo đức hoá” tình cảm này mà dành cho họ một sự thấu cảm chân thành. Cuốn sách này có lẽ như một món quà, một lời an ủi dành cho cha mẹ, có yếu lòng, có mệt mỏi cũng không sao cả, chỉ cần ngày ngày tiếp tục cố gắng đồng hành cùng con đã là tình yêu thương vô bờ bến rồi.