Trôi - Nguyễn Ngọc Tư
Xem thêm

Nguyễn Ngọc Tư đã vẽ nên một bức tranh sống động về một thế giới luôn chuyển động, về một thế giới nổi trôi nơi con người như những chiếc lá lất phất trên dòng sông cuộc đời. Mỗi câu chuyện trong "Trôi" đều có chung một nỗi niềm trăn trở về sự tồn tại, sự kiếm tìm một chỗ đứng trên dòng chảy vô định của con sông hay trong dòng chảy bềnh bồng của cuộc đời. Từng câu chuyện, từng con người trong "Trôi" đều mang trong mình những nỗi niềm riêng. Có người chọn hướng về tự do để rồi khao khát mãnh liệt, có người lại cứ bám víu vào những u hoài xưa cũ và cũng có người chọn cách lạc lõng giữa dòng đời tấp nập ngược xuôi. Văn thơ của Nguyễn Ngọc Tư như một làn gió nhẹ thổi vào lòng người đọc cái cảm giác man mác và miên man khó tả. Có lẽ vì như vậy mà khi đọc những câu chuyện, lướt qua những con người trong "Trôi" ta không chỉ mang trong mình một nỗi sầu muộn mà phảng phất đâu đó là những khoảnh khắc ấm áp mà nhẹ nhàng vô ngần. Quả thực, "Trôi" cùng với chất văn dạt dào xúc cảm của Nguyễn Ngọc Tư như một bản giao hưởng với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau để rồi không thôi khắc khoải, rung động.

Trong tạp bút của Nguyễn Ngọc Tư, thấp thoáng sức nặng của truyện ngắn, và ngược lại ở truyện ngắn, người đọc lại được miên man theo những con chữ, cảm xúc của tạp bút. Điều này được thể hiện rõ nhất trong tác phẩm vừa ra mắt.

Ở trang bìa của Trôi không định dạng thể loại. 13 mảnh ghép trong tác phẩm đủ sức lôi cuốn và hấp dẫn, để bạn đọc được đắm chìm trong không gian sáng tạo mà nhà văn tạo ra. Trong một truyện ngắn có tên là Đất trước đây, Nguyễn Ngọc Tư từng viết, đại ý, không có đất mình chẳng là gì hết, như một ẩn dụ cho một sở hữu khi đất mang đến cho người ta một gia sản, một cuộc đời an ổn. Nhưng đến Trôi, đất trong ý niệm của Nguyễn Ngọc Tư đã không còn đứng yên một chỗ. Một nhân vật trong Khởi đầu của gió đã thảng thốt: “Tao quên đất đi”.

Những con người trong truyện cũng mang thân phận như vậy. Họ có một cuộc đời bất định, dịch chuyển qua những không gian và thời gian khác nhau. Dường như họ đang mang trên mình một định mệnh: sinh ra để trôi. Họ nổi trôi, nhưng mắc kẹt lại đâu đó, cùng lúc. Họ tháo nhưng cũng là buộc. Họ tìm kiếm tự do, buông mình khỏi những nơi chốn, khỏi hiện thực nghiệt ngã, khỏi những vui buồn, nhưng làm sao mà thoát khỏi vòng vây của chân trời.

Nguyễn Ngọc Tư viết: “Con người ở xứ này giống như cái biền dừa nước dày rợp ven sông, bởi một vài bụi dừa con ở đâu trôi lại, bắt rễ sinh sôi, mà thành rặng. Rồi tàu sắt cày sông làm nên bao sóng, khiến đất lở đem theo mớ cây tới những nơi chốn khác. Mọi thứ trên đất này, kiểu gì rồi cũng đi…” (Khởi đầu của gió).

Ngoài những con người “sinh ra để trôi”, Nguyễn Ngọc Tư còn mang đến những câu chuyện mang màu sắc phi lý, kỳ dị. Là Tường trong truyện Mơ người, vướng vào vòng lao lý chỉ vì sở thích đêm đêm đột nhập vào nhà người ta, “ngó tận mặt kẻ đang say ngủ”. Là ông già trong truyện Đong đưa trong kén, đã sống những năm tháng cuối đời gần như trên võng. Hay cặp vợ chồng trong Lửa nguội giữa trời, cùng nhóm bếp trên máy bay gây sự cố hàng không đầy khó hiểu…

Quyết liệt khước từ lối kể chuyện thông thường, văn chương của Nguyễn Ngọc Tư về sau sử dụng nhiều ẩn dụ, ngôn từ được trau chuốt, cô nén. Việc tìm kiếm, nhận diện một câu chuyện khi đó trở thành hành trình của riêng độc giả. Dưới bề mặt của chữ, độc giả nghe ra tiếng khóc cười, nghe ra những tiếng thở dài, những buồn vui của các nhân vật. Và rõ ràng, đây là điều mà không phải ai cũng làm được!

Bất cứ một cuốn sách mới nào của Tư chuẩn bị ra mắt cũng khuấy lên nhiều xôn xao, trông đợi, hồi hộp lẫn tò mò. Mặc dù, cái tạng của Tư là vậy, đã buồn là buồn thẳm khôn cùng, đã đau là đau thấu tâm can. Mà lạ lùng, người đọc vẫn trông đợi gặp Tư, được nhìn ngắm chữ Tư no nê. Và lần này, chữ chị lại cuộn trôi về phía người, vừa chếnh choáng, vừa cuồng loạn, vừa khuấy lên những mộng mị hoang đường. "Trôi" lần này của Tư là những cuộc chuyển dời không đoán định. Nhưng căn cớ của những cuộc trôi thì đã manh múng từ lâu lắm.

Tôi đã gặp “Trôi” khi lặn ngụp trong "Sông" (tiểu thuyết) của Tư từ nhiều năm trước. Và lần này, là những cuộc trôi khởi đi triền miên, cuồng loạn, đầy huyễn hoặc, chới với. Cả nghĩ, nếu những rẻo đất Cù Lao không rã bèn trôi, nước đứng chựng một dòng, thì đời người cũng tự trôi, bứt rời quê xứ, máu mủ ruột rà. Bởi cái gọi là gia đình của những phận đời nổi nênh ấy vốn đã bời rời tự lúc nào.

Phải chăng, bời rời ngay cả khi hai anh em cùng nằm chung khoang bụng mẹ mà chẳng thể ưa nhau, chỉ vì thằng anh “ngu tối”. Phải chăng, người có trí não chậm chạp hơn luôn là “của đáng tội”. Khi cuộc trôi rùng rùng cuốn đi, người ta tính toán “coi nên trôi với thứ vật chất nào mới phải”, đứa em gái thà trôi với chai rượu cạn láng, “chết sướng hơn trôi chung với mấy người”. Cũng không biết ai là người “chết sướng hơn”, khi phát giác ra người đàn bà của mình trôi cùng đàn ông xứ khác, và trong cuộc trôi đó, một mầm sống kịp tượng hình (Trôi).

Cái bời rời cũng hiển lộ rõ khi người đàn ông cắm mặt vào màn hình điện thoại, theo dõi cuộc nổi nênh của đám lục bình trôi sông mà quên mất đứa nhỏ trước mắt mình. “Sau này anh tự vấn, nếu mình gạn hỏi, liệu đứa nhỏ sẽ thổ lộ chuyện nó sắp thực hiện một cú tiếp đất từ tầng 9 không?... Anh sẽ linh cảm được cú rơi nếu anh dừng ngó dõi theo bụi lục bình một lúc?” (Giữa đây và kia).

Đọc Tư, ta sẽ không tránh được những quãng hẫng hụt trong lòng. Đau gì đau dữ! Như áng chừng được điều đó, Tư khéo léo nêm nếm thêm mớ mộng mị hoang đường đầy huyễn hoặc. Những cuộc trôi vì vậy mà bớt đau chăng? Như cái vụ hai vợ chồng lỉnh kỉnh bếp núc đổ bánh xèo trên máy bay đó, bày ra ăn một “bữa cuối” tưởng giản đơn như đổ bánh trên ghe. Kỳ cục vậy mà cũng nghĩ ra được.

Ờ thì đời vốn kỳ cục mà. Như bà vợ tất tả lên truyền hình tìm mẹ cho ông chồng, rồi mới có chuyện đổ bánh xèo trên máy bay, tiễn chồng trẻ đi là đi biệt không về nữa. Bởi chuyện quay về của người đàn ông đó ngó bộ cũng hoang đường đâu kém chuyện đổ bánh xèo (Lửa nguội giữa trời).

Chạm vào những huyễn hoặc Tư bày ra, không biết nên cười hay khóc. Giữa minh mông chữ nghĩa, những phận người cứ éo le, tréo ngoe đến khôn cùng. Như người đàn ông suốt đời không ra khỏi căn nhà và những món đồ gỗ quý giá, bữa nọ ngồi xổ giữa đống vé tàu cũ kỹ được ông già ve chai thu nhặt muôn phương đem tới. Cái đống vé tàu đó - những cuộc đi, so với căn nhà minh mông mà hai vợ chồng già cố giữ cho đời sau, cái nào đáng giá hơn? (Giữa vật chất này).

Có những thứ mông lung đến mức cuối cuộc đời người ta chưa chắc đã nhìn rõ một lần. Như món nợ từ đời bà sơ bà sở nào đó, buộc con cháu phải đi đòi nợ hết đời này đến đời khác. Mà nợ gì? Không ai biết rõ. Vì không rõ nên họ cứ chờn vờn trong cái vòng lẩn quẩn nợ nần. Nhưng nó cũng như một mối dây ràng buộc mà ông bà tiên tổ đã quăng ra. Bởi chỉ có mắc kẹt vào mối dây đó, cuộc đời này mới mong kết nối lại những bời rời, nhạt nhẽo đang manh nha chụp lấy họ (Nợ).

Văn chương của Tư - là một cánh đồng chữ nghĩa bất tận xô va vào nhau. Nhưng cũng có thể là những con chữ bất định, mông lung, mịt mờ đâu đó khiến người đọc phải lần dò trôi theo để rồi đắm đuối, chết chìm trong nó.

Với "Trôi", chữ nghĩa Tư đã vượt thoát khỏi lớp vỏ cố định, nó biến thiên theo những ý tưởng nổi nênh, bất tận. Nhiều người cho rằng sự biến hóa đầy kỹ thuật trong cách viết đã khiến văn Tư bớt mộc mạc chân tình gần gũi như trước. Cũng không ít người sẽ hẫng đi trước cách xây dựng nhân vật, cách Tư đẩy câu chuyện lắt léo nhiều tầng nghĩa được cài cắm trong những trạng huống phi lý nhưng đầy dụng ý. Nhưng đó là tất cả những gì mà người viết chuyên nghiệp buộc phải có: tự vượt ra cái kén của chính mình, nếu không muốn cố định ở một hạn mức nhàm chán nào đó.

Đúng như Tư nói, Tư thích mày mò nghiên cứu những từ ngữ đẹp lộng lẫy trong những cuốn từ điển. Tôi đã từng đặt câu hỏi: “Văn Tư, rốt cuộc chỉ là phương diện để khai thác phương ngữ?”. Nhưng với lần trở lại này, hành trình đó đã chấm dứt. Thay vào đó, con đường mới mẻ đầy hấp dẫn mà Tư phác lộ đã hiện ra, rõ ràng. Điều đó cho thấy chị chưa bao giờ thỏa hiệp với sự ái mộ, chưa bao giờ chiều chuộng theo thị hiếu của đọc giả mà buộc phải neo mình mãi ở một cái bến quê, một cánh đồng, một dòng sông nào đó. Những con chữ của chị phải trôi ra biển lớn. Những ý tưởng của chị phải đi rong đâu đó, đến tận cùng hốc kẹt hay bay lên cả bầu trời cao vợi kia.

Truyện “Trôi” trong tập cùng tên dễ khiến người ta liên tưởng đến cảnh sạt lở ngày càng xảy ra phổ biến ở khu vực miền Tây Nam Bộ. Nhiều bản tin đề cập nhà này nhà nọ chỉ ngủ đêm sáng đã mất trắng gia tài sự sản. Những vạt đất ven sông, kinh, rạch dần dà trôi tuột vào lòng nước, biến mất, tiêu tan. Nhưng liệu có phải Ngọc Tư đề cập chuyện thời sự xã hội. Khó nói! Nhưng có thể thấy, “Trôi” trong tập cùng tên khiến bạn đọc lờ mờ nhận ra bóng hình quê hương tan rã. “Ông già Ba Hào, người cả đời không ra khỏi nhà vì chẳng nỡ xa mớ của cải chồng chất quanh mình, cũng đành chịu trôi trên cái ghế cẩn xà cừ, khóc nấc từng hồi khi rẻo đất ông ngồi cứ chia tách không thôi, mang theo mớ tủ bàn chạm trổ, những món đồ sứ cổ” (tr.59). Còn Chị Vẹn trôi với đống củi trâm bầu ướt; Tư Điền trôi cùng cái máy may của vợ; Chương móm trôi với bộ bàn đá có mặt kẻ ô cờ; cậu Chín Cung thì có qua nhiều thứ không biết trôi theo cái nào; thằng nhỏ Mười Hai thì không có gì để trôi theo nên trôi một cách bơ vơ;…

Những nền nếp đời sống vốn có dần dà phân hủy. Lòng người tan rã khiến những khúc sông, những miền quê lần hồi tan rã. “Nhưng những gì còn sót lại của một cù lao phân rã không là bao. Vài ba mái nhà lấp ló trên mặt nước, một vài cái lu, những rẻo đất đủ rộng cho một người ngồi thì cũng có, lại trôi đờ đẫn đằng xa. Mãi mới có mảnh đất trôi gần, đúng lúc nó rùng mình nứt hai. Nó từng là vườn sau nhà ai đó, mình có thể nhìn thấy mấy bụi khoai báng lúp xúp cao ngang đầu gối. Cú chia tách tạo vài lượn sóng vỗ vào vách thẳm bên dưới chỗ mình ngồi” (tr.68). Vách thẳm đó là sự sụp lún của đời người, là gánh nặng chấp niệm nếu một mai không chống đỡ nổi trọng lượng của chính nó thì nó sẽ tự sụp đổ. Mỗi người gánh lấy chấp niệm của riêng mình để từ đó mất dần liên hệ với nhau. Mối liên kết người gãy đổ, tình thân đứt đoạn, đó là nguồn cơn tan rã. Cuộc sống con người tưởng chừng như bục vỡ.

Cấu trúc đối lập giữa nhân vật “em” và nhân vật xưng “tôi” trong truyện “Trôi” cơ hồ tạo ra thế đối lập giữa thực dụng và hư huyễn, giữa mất và còn, giữa cái ăn được và cái không ăn được. Tưởng chỉ nói bâng quơ, nhưng nếu bạn đọc ngẫm lại, thấy rằng: không chờ đến lúc tan rã, chẳng chờ đến khi trôi theo dòng nước mới rơi vào tình thế mất/còn, ăn được/không ăn được, thực dụng/hư huyễn, … mà thường trực trong đời sống chẳng phải chúng ta vẫn phải liên tục chọn lựa như vậy sao? “Trôi” chỉ là cái tình thế giúp Nguyễn Ngọc Tư xây dựng để cuộc sống hiện ra bản chất bộn bề, ngổn ngang, xáo trộn, dịch chuyển thường xuyên … ẩn chứa trong ấy, lòng người bị căng xé, dồn nén, ép buộc phải trôi về phía nào đó. Nhưng, cho dù trôi về phía nào thì cũng tức là đánh mất phần còn lại.

'Chẳng cuộc trôi nào là vô tình hết, bản thân sự nổi trôi là thông điệp, tín hiệu, thư mời của chân trời. Sớm hay muộn thì cũng có kẻ nhận lời'.

Trong một nền văn học đang dần lụi tàn vì dường như những chủ đề về tình cảm đôi lứa, tình cảm gia đình thiêng liêng,... đang dần trở nên vô cùng đại trà khiến cho nhiều bài học, ý nghĩa mất đi giá trị và dần chìm vào quên lãng trong lòng bạn đọc. Hàng năm có vô số cuốn sách được xuất bản nhưng chúng răm rắp đi theo một mô - típ đã được đề ra từ trước, chúng đua theo những chủ đề hợp thời đại mà bỏ quên đi mình đang dần hòa tan vào đám đông và không để lại một chút ấn tượng nào. Tuy vậy, một cây bút đã nổi lên với văn phong tìm về sự giản dị, mộc mạc nhưng vẫn nêu cao giá trị về tình yêu đôi lứa, gia đình, tình yêu thiên nhiên, con người, đó là tác giả Nguyễn Ngọc Tư.

Ta vẫn thường nghe mọi người gọi cô bằng một cái tên thân thuộc là cô Tư, cách gọi nghe thân mật, duyên dáng tựa như những con người chân chất ở vùng châu thổ sông Mê Kông. Cái tên ấy đi song với lối hành văn đặc sắc, mang đậm hơi thở của vùng đồng bằng Nam Bộ, nơi cái nắng nóng phủ kín đất trời, đời sống thường nhật của con người và có lẽ là cả trong những tác phẩm văn học của cô. Một tác phẩm tiêu biểu mới xuất hiện trong thời gian gần đây của Nguyễn Ngọc Tư đã được nhiều người đón đọc, “Trôi”. “Trôi” nổi bật lên hoàn toàn giữa hàng trăm những đầu sách ca ngợi quê hương, đất nước bởi lẽ bên cạnh việc cho độc giả thấy phong cảnh của xứ mút cà tha hẻo lánh, cô Tư còn cho ta chứng kiến những sự thật trần trụi, mục nát của những tâm hồn bị tổn thương, héo mòn trong môi trường sống nghèo đói, lạc hậu.

Khái niệm “trôi” hiện diện trong văn Nguyễn Ngọc Tư khá sớm, có lẽ ngay từ đầu nhà văn đã cảm nhận điều ấy. Có thể, cho đến “Trôi” (NXB Trẻ - 2023) mọi thứ mới đậm nét hơn. Là lúc mọi thứ vỡ ra và trôi, theo mọi hướng. Một sự bùng vỡ và rồi, mỗi người, mỗi vật, mỗi việc, mỗi câu chuyến trôi đi một cách khác nhau, vô cùng khác nhau mà có lẽ điển hình nhất là kiểu trôi của một cô em gái, trôi đi mải miết trong “tâm thế say”. “Đùng cái cả xứ nứt làm bảy mảnh, ruột hóa ra bìa. Tư Điền trôi cùng cái máy may của vợ, một rổ chỉ đủ màu, mấy bộ đồ chưa kịp giao cho khách… Chương móm mặc độc cái quần cộc, trôi với bộ bàn đá có mặt kẻ ô cờ, mấy bó cỏ cho dê ăn và một cặp ngỗng già… Ông già Ba Hào trôi trên cái ghế cẩn xà cừ, khóc ngất từng hồi khi rẻo đất ông ngồi cứ chia tách không thôi. Thằng nhỏ Mười Hai thì trôi nhẹ từ Bình Di về, người trụi lủi không mảnh vải… Thằng con trôi chung với mấy chục học trò cùng lớp, cô giáo gọi về cho mình bảo phụ huynh khỏi chừa cơm… Ba mình trôi với chùm bóng bay khi ngang qua chợ Bà Cát. Mình trôi với cây mù u”. Rồi có thể sẽ “mắc kẹt” lại đâu đó, hoặc không, cứ trôi tuốt ra Biển Nước.

Một lát cắt đời sống đương đại cứ hiện diện đâu đó, quanh quất mỗi phận người. Cái tâm thế “đợi” mệt mỏi kéo dài ngày này qua tháng khác khi nhân vật mang tư thế chờ ra đi sang thế giới khác của không ít người trong đời sống đương đại xô bồ này. Ngày đầu còn “đợi ai đó tới thăm”, nên Lý cứ nhìn ra cửa, cho đến lúc “đi”. “Cứ thấy ai ngồi trông cửa y như là dân mới. Họ còn chờ đợi những bóng người tới thăm. Lưu lại viện dưỡng lão nửa năm sẽ biết, không có gì ngoài đó”. Ở đó ngày tháng chừng như không tồn tại nữa. Mở đầu truyện ngắn “Đợi”, Nguyễn Ngọc Tư mở ra không gian đa chiều để bạn đọc soi góc nào cũng có thể nhận ra đâu đó có bóng dáng mình: “Mình đang ngồi ngay tháng Sáu. Hoặc đã tháng Mười Một. Mà ngày tháng với mình quan trọng gì, ngày nào mà chẳng in hệt nhau…”; hay như: “Mình đang chờ ở giữa tháng Sáu. Hoặc giờ tháng Chín rồi, không chừng”. Trạng thái đợi của các nhân vật khác nhau, từ việc đợi “một tiếng ợ” của bệnh nhân Niềm, đợi đến lúc “đi” của nhân vật Lý… cứ lồng ghép, dồn nén nhiều xúc cảm cho bạn đọc.

Với nhà văn Nguyễn Ngọc Tư thì: “Chẳng cuộc trôi nào là vô tình hết, bản thân sự nổi trôi là thông điệp, tín hiệu, thư mời của chân trời. Sớm hay muộn thì cũng có kẻ nhận lời”.

“Năng lượng chữ” của Nguyễn Ngọc Tư trong “Trôi” chứa đựng trong mỗi truyện ngắn khá lớn, đọc xong sẽ nhận ra bao nhiêu điều phải ngẫm nghĩ. Đó là chất văn rất đặc biệt làm nên thương hiệu Nguyễn Ngọc Tư, mỗi chữ đều đáng để chúng ta đọc.

    'Chẳng cuộc trôi nào là vô tình hết, bản thân sự nổi trôi là thông điệp, tín hiệu, thư mời của chân trời. Sớm hay muộn thì cũng có kẻ nhận lời'.


    Trong một nền văn học đang dần lụi tàn vì dường như những chủ đề về tình cảm đôi lứa, tình cảm gia đình thiêng liêng,... đang dần trở nên vô cùng đại trà khiến cho nhiều bài học, ý nghĩa mất đi giá trị và dần chìm vào quên lãng trong lòng bạn đọc. Hàng năm có vô số cuốn sách được xuất bản nhưng chúng răm rắp đi theo một mô - típ đã được đề ra từ trước, chúng đua theo những chủ đề hợp thời đại mà bỏ quên đi mình đang dần hòa tan vào đám đông và không để lại một chút ấn tượng nào. Tuy vậy, một cây bút đã nổi lên với văn phong tìm về sự giản dị, mộc mạc nhưng vẫn nêu cao giá trị về tình yêu đôi lứa, gia đình, tình yêu thiên nhiên, con người, đó là tác giả Nguyễn Ngọc Tư.


    Ta vẫn thường nghe mọi người gọi cô bằng một cái tên thân thuộc là cô Tư, cách gọi nghe thân mật, duyên dáng tựa như những con người chân chất ở vùng châu thổ sông Mê Kông. Cái tên ấy đi song với lối hành văn đặc sắc, mang đậm hơi thở của vùng đồng bằng Nam Bộ, nơi cái nắng nóng phủ kín đất trời, đời sống thường nhật của con người và có lẽ là cả trong những tác phẩm văn học của cô. Một tác phẩm tiêu biểu mới xuất hiện trong thời gian gần đây của Nguyễn Ngọc Tư đã được nhiều người đón đọc, Trôi. Trôi nổi bật lên hoàn toàn giữa hàng trăm những đầu sách ca ngợi quê hương, đất nước bởi lẽ bên cạnh việc cho độc giả thấy phong cảnh của xứ mút cà tha hẻo lánh, cô Tư còn cho ta chứng kiến những sự thật trần trụi, mục nát của những tâm hồn bị tổn thương, héo mòn trong môi trường sống nghèo đói, lạc hậu.


Giới thiệu về tác giả và tác phẩm


    Sinh ra dưới cái nắng oi ả của đất rừng phương Nam, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã sớm hình thành lối viết giản dị, bình dị và mộc mạc của thôn quê. Cô Tư âm thầm gắn bó với văn học để rồi vào năm 20 tuổi rực rỡ ấy, cô đã thật sự tỏa sáng khi nhận được giải Nhất cuộc thi Văn học của Nhà xuất bản trẻ. Tiếp nối thành tựu ấy, Nguyễn Ngọc Tư đã liên tục cống hiến cho nền văn học nước nhà và giành được vô số giải thưởng trong và ngoài nước, tiêu biểu là Giải văn học Liberaturpreis 2018 do Litprom (Hiệp hội quảng bá văn học châu Á, châu Phi, Mỹ Latin ở Đức) bình chọn. Một số tác phẩm tiêu biểu của cô như Ngọn đèn không tắt (2011), Khói trời lộng lẫy (2010), Hong tay khói lạnh (2015), trong đó tác phẩm nhận được nhiều đề cử và giải thưởng danh giá nhất là Cánh đồng bất tận. 


    Và như vậy, vòng luẩn quẩn không bao giờ chấm dứt và con người mãi mãi phải lang thang tìm kiếm, mãi 'đói', mãi 'đong đưa', mãi 'mơ', mãi 'đợi', và mãi 'trôi', để đến một ngã tư, đợi chờ phán quyết cuối cùng cho thứ tội lỗi không rõ ràng như trong truyện Bên cửa: 'Tôi phải về. Kịp phiên tòa cuối cùng'. 

    

    'Em thà trôi một mình. Nhưng những gì còn sót lại của một cù lao tan rã chẳng là bao nhiêu. Vài ba mái nhà trôi nổi trên mặt nước, một vài con lu, những đoạn đất rộng rãi đủ cho một người ngồi thì cũng có, lại trôi đến chân trời xa xôi. Mãi mới có mảnh đất trôi gần, đúng lúc nó rùng mình nứt làm hai. Trong mê cung của nước, mình không biết mình sẽ trôi tới đâu. Không bờ bến để phân biệt. Ngó đâu cũng chỉ thấy nước và bọt nước, cùng những vật chất nổi lên. Giờ thì mạnh ai nấy trôi'


    Độc giả dễ dàng tìm thấy sự đồng cảm nơi từng nhân vật trong tập truyện ngắn Trôi, như thể họ là một phần của chính mỗi con người chúng ta. Và con người ấy, được mô tả như vật thể lang thang vô định - luôn trong trạng thái loay hoay lý giải, làm sáng tỏ về điều mà họ đã mất. Và trong hành trình trôi nổi theo quỹ đạo riêng, những vật thể này vô tình chạm vào nhau, gợi lên hơi ấm con người, thôi thúc cảm giác cái đẹp là một điều thường trực, một mối nguy hại về sự tan rã.


Phong cách nghệ thuật tối giản mà tinh tế


    Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư không chỉ là một sự thể hiện tài năng văn chương mà còn là một dấu ấn sâu sắc của nền văn hóa và đời sống dân dã miền Nam Việt Nam. Với việc sử dụng ngôn từ đậm chất Nam Bộ, tác giả đã tạo ra một không gian văn hóa sống động, phản ánh được nét đẹp và cái bình dị của cuộc sống miền quê, nơi cô sinh ra và lớn lên.


    Nguyễn Ngọc Tư là người con của một vùng đất mà mỗi chi tiết cuộc sống, mỗi cung bậc cảm xúc đều được truyền tải một cách chân thành và sâu sắc. Phong cách sáng tác của cô không hề xa lạ với đời sống hàng ngày của nhân dân Nam Bộ. Cô biết cách tận dụng những từ ngữ đơn giản nhưng đầy ý nghĩa, những hình ảnh bình dị nhưng sâu lắng để mô tả lại những câu chuyện của con người miền quê. Mỗi câu chuyện, mỗi nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đều là một phần của cuộc sống thực tại, một góc nhìn sâu sắc vào những cung bậc cảm xúc và suy nghĩ của con người. Việc sử dụng ngôn từ phong phú, đa dạng nhưng vẫn giữ được vẻ dễ hiểu, gần gũi, chính là một điểm mạnh của phong cách sáng tạo của cô.


    Bằng cách kể chuyện một cách chân thành và tế nhị, Nguyễn Ngọc Tư đã vẽ nên một bức tranh về sự phức tạp và đa chiều của con người, đồng thời đánh thức những suy tư về ý nghĩa của cuộc sống và vẻ đẹp tiềm ẩn sau sự phản ánh của nó. Tác phẩm Trôi không chỉ là một tập truyện ngắn mà còn là một tác phẩm nghệ thuật sâu sắc, ấn tượng và ý nghĩa. Mỗi trang sách là một cuộc phiêu lưu vào thế giới tinh tế của từng nhân vật, từng câu chuyện. Điều này đã để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng độc giả và những suy tư sâu sắc về cuộc sống, ý nghĩa của sự tồn tại và vẻ đẹp của sự phản ánh nghệ thuật.