Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu - Hồ Anh Thái
Xem thêm

Tiểu thuyết “Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu” có cấu trúc hình kim cương - các sự kiện, các mẩu chuyện rẽ nhánh, rẽ tia nhưng vẫn tập trung vào ý chính với kiểu “truyện lồng truyện” theo hiệu ứng cánh bướm: “Hạt bụi ở chỗ này có liên quan đến con bướm đập cánh ở chỗ kia” (tr. 9). Thực chất lý thuyết của cấu trúc này là sự lồng ghép các tam giác (mỗi tam giác là một mẩu chuyện nhỏ) thành một chỉnh thể mà trong đó điểm giao nhau làm thành tâm điểm. Tâm điểm này chi phối các nút giao nhau theo các cạnh tam giác. Cấu trúc này làm thành một thái dương hệ các tầng lớp nghĩa; tạo ra nhiều góc cạnh dễ thu hút, hấp dẫn người đọc liên tưởng để nhận biết thông tin nghệ thuật của tác phẩm. Các tiếp điểm và tâm điểm tạo nên một mạng lưới các quan hệ, nương tựa, tỏa sáng cho chủ đề. Chính cấu trúc này đã quy định điểm nhìn đa bội trong tiểu thuyết Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu. Truyện được kể ở ngôi thứ ba, ngôi kể này tuy rất khách quan nhưng thiếu tính chủ quan. Để bù lại, tác giả đã liên tục linh hoạt di chuyển điểm nhìn từ người kể chuyện sang nhân vật, rồi tiếp tục di chuyển từ nhân vật này sang nhân vật khác hoặc chuyển từ đối thoại sang độc thoại. Đặc biệt là độc thoại và đối thoại hòa lẫn vào nhau; các đối thoại được viết liền mạch không dùng dấu gạch đầu dòng. Cứ như thế, một không khí Hà Nội với những người Hà Nội bình thường và khác thường của những năm 70 trong thế kỷ trước hiện ra rõ nét với đủ các cung bậc vui buồn, xấu tốt, kể cả những quan niệm, suy nghĩ ấu trĩ một thời.

Hồ Anh Thái cũng tối đa hóa việc làm nhòe lời của nhân vật với lời của người kể chuyện - trong trường hợp này lời của người kể chuyện chính là lời của tác giả - để kiến tạo những tình huống truyện rất đa dạng về sắc thái thẩm mĩ: khi trào tiếu hài hước, lúc lại lãng mạn thương cảm. Ví như khi Phan, bằng năng lực nhìn xuyên tường, thấy và tường thuật lại cảnh viên sĩ quan quân báo gãi chim, thì “Viên sĩ quan bật cười ha hả. Cậu đúng là ma xó, biết hết nhìn thấy hết mọi thứ trong nhà người ta. Cả làng tớ đàn ông đều có thói gãi chim. Giữa thanh thiên bạch nhật giữa chốn việc làng mà từ ông cụ đến thằng nhãi ranh đều có thể gãi chim. Chẳng ngứa ngáy gì cũng gãi. Gãi như một thói quen. Gãi như một cái thú. Gãi như một dấu hiệu chứng tỏ giới tính. Gãi như một niềm hãnh diện của đàn ông.” Đó là trào tiếu hài hước. Còn lãng mạn thương cảm, có lẽ đậm nhất ở những trang viết về nhân vật “anh nhạc vàng”. Ở đây, chính ca từ của những bài hát “ủy mị”, “rên rỉ”, “sầu thương”, làm yếu lòng người, tóm lại những bài hát bị cấm phổ biến ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa một thời, lại giữ vai trò của kiểu “lời nửa trực tiếp”. Nó như sự đồng cảm của nhà văn. Và nó phát lộ một sự thật về tâm hồn con người nói chung và tâm hồn người Hà Nội nói riêng, bất kể những cấm đoán khắc nghiệt của thời cuộc: đó là nhu cầu được lãng mạn thương cảm, nhu cầu được chìm vào đắm vào nỗi sầu muộn hoài nhớ đầy day dứt, trong những khoảng thời gian nào đó của một ngày, hay của một đời. Nhân vật “anh nhạc vàng” và số phận bên lề đáng thương của anh - không được chấp nhận nhập ngũ, bị đi cải tạo bảy năm vì tội hát nhạc vàng - có thể được quy chiếu trực tiếp vào những người thật việc thật của Hà Nội một thuở, nhưng trong tiểu thuyết thì đó vẫn là một nhân vật của tiểu thuyết. Một nhân vật khiến cho hiện thực thời chiến trong Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu càng thêm đa tạp và bề bộn.

Chọn viết về Hà Nội trong thời điểm khốc liệt nhất của chiến tranh chống Mĩ, Hồ Anh Thái đã không bỏ qua những ngày Hà Nội bị máy bay B-52 Mĩ ném bom rải thảm. Có điều, ông không chủ ý mô tả một “Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi” như cụ Nguyễn Tuân - chương viết về cuộc chiến đấu trên không của nhân vật phi công Kỷ, anh trai Phan, chỉ vỏn vẹn chưa đầy ba trang sách - mà ông nhấn mạnh vào những hậu quả khủng khiếp của cuộc rải bom và những cái nghịch dị tiếp theo của nó. B-52 Mĩ rải thảm, tất nhiên người ta sẽ tưởng tượng ra mặt đất rung chuyển, nhà cửa sập nát vỡ vụn, và người chết, nhưng Hồ Anh Thái lại khoan vào cái im lặng: “Không kêu khóc không gọi nhau hỗn loạn không xao xác í ới. Nỗi hoảng sợ đã thành tê tái không còn kêu lên hét lên được nữa. Câm. Câm lặng. Câm hoàn toàn. Câm triệt để tuyệt đối. Cứ thế mà chạy khỏi bãi bom càng xa càng tốt... Một nỗi sợ dị đoan kìm nén tất cả những gì thoát ra thành âm thanh.” Ấy là cảnh đoàn người từ khu phố bị bom chạy thoát ra đến hồ Thiền Quang, trong đêm. Tiếp đến là cảnh bệnh viện Bạch Mai đã thành đống gạch vụn và Phan tham gia công việc tìm kiếm cứu người. Không phải là cứ thế đào bới và đưa người còn sống thoát ra, mà trong tiểu thuyết này, nhân vật của Hồ Anh Thái phải bò vào trong đống gạch đá bê tông ấy, như bò vào hang, cùng bác sĩ giải phẫu tháo khớp toàn thân những người chết nằm phía ngoài, từng khúc một, đặng đưa người còn sống bên trong ra. Đó là sự khủng khiếp. Và còn nữa: nghịch dị. Bởi vì chỉ sau ít trang thôi, nhà văn đã dựng lên cảnh nữ nghệ sĩ xiếc thú đưa bốn con hổ, trên hai chiếc xe bò kéo, đi sơ tán khỏi thành phố vừa bị đánh bom. Cũi thú dữ và người trên đường chen sát nhau, lặng lẽ, không hỗn loạn. Chỉ có một con bò kiệt sức vì quá sợ mùi hổ nồng nặc: “Nó đứng lại ngay giữa đường, đầu chúi xuống, rên rỉ yếu ớt... Bọt mép sùi ra trắng như bọt xà phòng.” Cảnh này có xảy ra trong thực tế hay không không quan trọng. Nhưng trong thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu thì nó là một “xen” thêm vào, khiến cho hình ảnh tổng thể về một Hà Nội thời chiến càng trở nên ngồn ngộn, ngổn ngang, đa tạp. Một chủ nghĩa hiện thực thậm phồn.

Tác giả đã thể hiện khả năng đi sâu vượt trội vào những điều phức tạp trong thế giới nội tâm của Phan, khắc họa những cảm xúc, suy nghĩ của ông bằng sự đồng cảm sâu sắc và sự hiểu biết sâu sắc về bản chất con người. Qua lăng kính trải nghiệm của Phan, người đọc được mời vào một thế giới tràn ngập tiếng cười, hình ảnh kỳ quái, sống động và ý nghĩa sâu sắc, mỗi câu chuyện là một hoạt cảnh sống động của tinh thần bền bỉ giữa những năm tháng chiến tranh đầy biến động. Hơn nữa, câu chuyện không chỉ dừng lại ở việc khám phá hành trình cá nhân của Phan; nó cũng đan xen một cách phức tạp vào bối cảnh cuộc sống rộng lớn hơn ở Hà Nội thời chiến, vẽ nên một tấm thảm phong phú gồm những khung cảnh gợi lên cả nỗi nhớ và sự xót xa. Từ những hầm trú bom đau khổ, nơi cư dân thành phố tìm nơi ẩn náu trước sự tấn công không ngừng của bom, đến những đêm đẹp đến ám ảnh được chiếu sáng bởi ánh trăng xuyên qua màn sương mù mù mịt, văn xuôi khéo léo của tác giả đã mang những khung cảnh này trở nên sống động với sự sống động và chi tiết đáng chú ý. Thông qua những cảnh được dàn dựng một cách tinh xảo này, người đọc sẽ được đưa ngược thời gian, trải nghiệm những khung cảnh, âm thanh và cảm xúc của một thời đại đã qua.