Chiến tranh không có khuôn mặt phụ nữ
Xem thêm

Cuốn sách được đọc xong trong thời gian nghỉ tết, nếu ko có nghỉ Tết thì chắc ko bao giờ mình đọc xong. Mình là đứa trẻ sinh ra tại đất nước của những cuộc chiến, người, người,nhà nhà đều nói, phim ảnh có nói, sách cũng nói và những người nước ngoài cũng chỉ biết đến việc đất nước này nổi tiếng về  tranh. Với mình chiến tranh được tái hiện qua các bộ phim và những cuốn sách giáo khoa  là hào hùng, là oanh liệt, là các cô thanh niên xung phong trên chiến trường mà vui như tết, chiến tranh đẹp như một bức tranh bi tráng. Tất cả mọi thứ đã thay đổi khi trang cuối cùng của cuốn sách  “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ” khép lại. Cuốn sách  là sự nghi chép trung thực của một phóng viên về  những câu chuyện  của những người phụ nữ đã từng phục vụ trong quân đội Liên xô trong đại chiến thế giới thứ 2,  một những  cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử nhân loại.Đầu tiên trong cuộc chiến này vinh quanh thuộc về ai, nếu như trước đây tôi sẽ nói thuộc về nhân dân Liên xô, sự lãnh đạo của Đảng và hết, trong mọi cuộc chiến dường như chúng ta chỉ thấy hình ảnh những người đàn ông –người lính, không có chỗ của những người phụ nữ trong những cuộc chiến ấy. Hoa hồng dành cho những người đần ông, còn phụ nữ mãi là cái bóng mờ nhạt.Trong cuốn sách này bạn sẽ gặp nhiều phụ nữ, đó là y tá, bác sĩ, cáng thương, du kích, người hoạt động kháng chiến. Nhũng người phụ nữ với mọi khuôn mặt, mọi lứa tuổi, mọi nghề nghiệp, họ tham gia vào một cuộc chiến với tinh thần tự nguyện. Cuốn sách là một cuộc hành trình trước, trong và sau trận chiến tranh tàn khốc. Cuốn sách là câu trả lời cho câu hỏi “ Chiến tranh đã lấy đi của người phụ nữ những gì và để lại cho cuộc đời học cái gì?"Trước chiến tranh họ hồ hởi mang theo một lý tưởng, một tình yêu, đánh đổi mọi thứ, thể hiện khát khao cháy bỏng được ra trận được chiến đấu, được lên tuyến đầu dù rằng lên tuyến đầu là đồng nghĩa với cái chết. Tôi cảm phục lý tưởng của những người trẻ ấy, những cô gái mới 16, 17 tuổi, độ tuổi rực rỡ với nhiều ước mơ. Đọc từng câu, từng chữ từng việc làm của họ tôi như nhìn thấy được tình  yêu gia đình, yêu quê hương của họ khi tham gia vào trận chiến này. Liệu mấy ai trong họ có cho mình một định nghĩa về chiến tranh.  Trong chiến tranh là câu chuyện khác, khốc liệt hơn, đau đớn hơn, nhiều máu và nước mắt hơn. Đó là nữ cáng thương 16 tuổi nặng 46kg có nhiệm vụ đưa thương binh và quân trang của về vùng an toàn, họ kéo thương binh dưới làn đạn của cuộc chiến, mà đâu chỉ có thương bình họ còn phải mang cả quân trang,  trọng lượng gấp nhiều lần trọng lương cơ thể họ, là cô ý tá cứu chữa thương binh nặng ngày ngày chỉ thấy máu và người bị thương, là cô thợ giặt nát tay với quần áo bẩn gồm máu và đất bùn, giặt mãi đến tay cũng nát bươm. Trong cuộc chiên ấy không có sự tồn tại của nữ tính, của niềm vui phụ nữ. Hình ảnh cô gái hành quân vào ngày hè nóng và đúng vào ngày “ ấy “  máu chảy thành dòng theo từng bước chân và  họ “ không có gì “ để lót, hình ảnh phụ nữ dành chút thời gian để thêu thùa hay làm gì đó để thấy mình nữ tính, là nhành hoa tím treo trên đầu súng của cô lính trẻ, cô vẫn giữ cành hoa dù bị phạt nặng, là  cả nhóm xúm lại chỉnh chang  cho một cô gái khi cần chụp ảnh.Sau chiến tranh  tưởng mọi chuyện sẽ tốt đẹp nhưng đó chỉ là sự bắt đầu với những  với vết thương tâm lý khi họ ko dám yêu, không dám có con, không dám ra chợ gia cầ , không dám mặc áo đỏ vì đó là màu của máu. Chiến tranh tước đi quyền hạnh phúc của họ khi một người mẹ nói với cô con gái quay về từ chiến trường rằng sẽ chẳng có ai lấy những người em gái của cô vì cô từng là một người lính. Xã hội không muốn nghe câu chuyện chiến tranh từ phụ nữ, không muốn nghe một người phụ nữ vì để mang thuốc qua chốt kiểm tra đã sát muối nên người đứa bé đến nỗi đỏ bừng và phát sốt, không muốn nghe chuyện một nữ lính bắn tỉa có thể chết vì một chiếc khăn trên cổ, không muốn nghe chuyện một người phụ nữ đã dìm chết con mình vì không muốn tiếng khóc của bé làm lộ vị trí của đồng đội, hôm sau cô ấy tự tử. Họ muốn nghe câu chuyện chiến tranh từ những người đàn ông, là súng, đạn, là hào hùng bi tráng.Cuốn sách không có kết thúc cũng giống như cuộc đời của các nhân vật vẫn cứ tiếp tục, chỉ không biết tiếp tục như thế nào. Đến bao giờ chúng ta mới có thể nghe được câu chuyện về chiến tranh từ những người phụ nữ.

0 điểm

Là một sự tình cờ nhưng cũng có thể là hợp lý, khoảng thời gian Alexievich bắt tay vào thực hiện những cuộc phỏng vấn sẽ làm nên cuốn sách về lịch sử tâm hồn phụ nữ trong chiến tranh cũng là thời điểm ra đời tiểu luận của Hélène Cixous. Những nhà nữ quyền phương Tây hiện đại đã nhận thấy trong một thế giới lấy nam giới làm trung tâm thì lịch sử của nam giới – viết dựa trên điểm nhìn của nam giới, bởi ý chí nam quyền – mặc định đại diện cho lịch sử loài người. Trong tiến trình phát triển đó, vì bị nam giới định nghĩa như là “Kẻ Khác” nên kinh nghiệm của phụ nữ với tư cách là nguồn tri thức luôn bị xem nhẹ. Phụ nữ nếu có xuất hiện thì luôn hiện lên qua góc nhìn nam giới trong diễn ngôn đơn thanh của lịch sử. Phụ nữ không có lịch sử của riêng họ. Còn dưới con mắt của những nhà nữ quyền hậu hiện đại phương Tây, lịch sử ấy là một đại tự sự của những “người đàn ông vĩ đại”, vì thế “cái chết của lịch sử” phải là sự kết thúc “lịch sử của người nam”. Từ đây, người phụ nữ cần cầm bút viết nên lịch sử bằng một tự sự, một giọng điệu với sự phân kỳ và những quy luật phát triển của riêng mình (Hồ Khánh Vân). Viết cuốn sách này sau khi đọc bài về một cụ bà kế toán, trong chiến tranh đã tiêu diệt 75 người, nhận được 11 huân huy chương dưới tư cách lính bắn tỉa[4], Svetlana Alexievich cũng trăn trở những vấn đề nữ quyền như thế. Có hay không sự tồn tại của lịch sử phụ nữ? Hay ít nhất, lịch sử chiến tranh nhìn từ góc nhìn nữ giới? Đâu là diễn ngôn lịch sử của nữ giới? Bà thấy rằng lịch sử của nữ giới dường như là “một lịch sử câm lặng và giông bão” bởi lẽ: Chúng ta là tù binh của những hình ảnh “đàn ông” và những cảm xúc “đàn ông”. Phụ nữ mãi náu mình trong im lặng, và nếu thảng hoặc họ có quyết định nói, thì họ cũng không kể về cuộc chiến tranh của họ, mà về chiến tranh của những người khác. Họ sử dụng một ngôn ngữ không phải ngôn ngữ của chính họ. Tuân theo mẫu hình nam giới bất biến. Một nữ cựu binh Liên Xô kể rằng sau khi chiến tranh kết thúc, đàn ông đeo huy chương còn phụ nữ thì không. Đàn ông là những người chiến thắng, những người anh hùng, những người chồng, đấy là chiến tranh của họ, nhưng chúng tôi, người ta nhìn chúng tôi bằng con mắt hoàn toàn khác. Người ta đã hoán đổi, một cách kín đáo, với niềm hạnh phúc giản đơn của người phụ nữ. Người ta từ chối chia phần chiến thắng với chúng tôi.

Những hình ảnh mang tính liên tưởng làm rõ nhất sự đối lập giữa sự sống và cái chết. Trong cảm nhận của cô y tá, thân thể của cậu bé sắp chôn trở nên trắng bạch nhưng không phải là do cái chết đang xâm chiếm mà do mặt trời rực rỡ. Ánh nắng đó tắm quanh thân thể của cậu như những chiếc áo tang bọc quanh thi hài. Mặt trời, ánh nắng là hình ảnh tượng trưng cho sự sống nhưng ở đây, người nữ lại dùng để miêu tả sự ra đi vĩnh viễn của một cậu bé. Đi giữa cánh đồng lúa mì ngập tràn ánh nắng (phạm trù sự sống) và xác người (phạm trù cái chết) nhưng cách miêu tả hiện thực của một nữ chiến sĩ khiến ta cảm thấy cái chết hiển hiện qua thiên nhiên thật tươi đẹp: "Chúng tôi băng qua các cánh đồng. Mùa thu hoạch mới đẹp làm sao! Chúng tôi đạp lên lúa mạch đen mà đi. Mà năm ấy, mùa màng thật đặc biệt, lúa mì chưa bao giờ cao đến thế. Cỏ xanh, mặt trời rực rỡ, và những người chết nằm dài trên mặt đất, máu. Những xác người và súc vật".

Lối tư duy so sánh đi ngược lại cảm quan mỹ học truyền thống này chính là lối viết nữ. Với những trải nghiệm sinh sản, làm mẹ, đối với họ, ngay cả trong cái chết, sự sống vẫn bao quanh và sinh sôi nảy nở. Theo Hélène Cixous, trong hệ thống lấy ngôn từ dương vật làm trung tâm, người nữ đặt ở vị trí xa tượng trưng nên họ dùng tư duy hình ảnh cụ thể để biểu lộ cái tượng trưng chứ không dùng tư duy khái quát. Tư duy so sánh cụ thể này là tư duy chung của nam và nữ nhưng nó luôn trội hơn khi thể hiện trên văn bản nghệ thuật phái nữ. Trong tác phẩm của Svetlana Alexievich, hai phạm trù sự sống và cái chết đã được cụ thể hóa, đời thường hóa bằng chuỗi hình ảnh so sánh-liên tưởng, có được nhờ xây dựng một hệ thống ngôn từ miêu tả giàu tính biểu tượng, bắt nguồn từ trải nghiệm quan sát và cảm xúc chủ quan của phụ nữ. Ngoài tác phẩm, lối viết ấy đã trải qua cuộc đấu tranh riêng để giành quyền được lắng nghe trong đúng giọng nói của mình.

Cùng trải nghiệm một hiện thực, cùng sống trong chiến tranh nhưng khi cuộc chiến qua đi, người vợ nhớ và kể lại những chi tiết rất nhỏ như người lính nữ không có điều kiện về nhà “ngửi mùi của các cô gái được gặp người thân” cho thỏa nỗi nhớ nhà, còn người chồng thì kinh ngạc, ông không ngờ rằng những sự kiện ấy xảy ra trước mắt ông nhưng ông không hề có ý niệm gì về chúng. Trong khi phụ nữ chú ý miêu tả những chi tiết nhỏ nhặt, vụn vặt nhưng chứa đầy cảm xúc ấn tượng thì nam giới lại nhớ đến hệ thống kiến thức quân sự, những trận đánh lớn và hành động chiến đấu. Cách tư duy chi tiết của phụ nữ vẽ nên một hiện thực khác so với tư duy hệ thống của đàn ông. Từ lối tư duy hệ thống, nam giới có xu hướng xây dựng những cấu trúc khái quát và hình ảnh tượng trưng. Trong khi đó, bằng thế giới đồ sộ những chi tiết của cảm xúc, khi người nữ viết/nói, họ tập trung vận dụng trí tưởng tượng và sử dụng chi tiết để tạo ra những hình ảnh so sánh, liên tưởng. Hélène Cixous cho rằng trí tưởng tượng đó chính là vẻ đẹp tư duy của phái nữ: “Phái nữ không tư duy phổ quát, trái lại trí tưởng tượng thì vô tận và đẹp đẽ”. Chứng kiến chiến tranh và buộc phải đi giữa lằn ranh giữa sự sống và cái chết, những nữ cựu binh Liên Xô của Svetlana Alexievich không tìm cách giải thích, định nghĩa những khái niệm mang đậm tính chất trừu tượng như hàng bao nhiêu thế hệ triết gia, văn sĩ, thi sĩ (phần lớn đàn ông), mà bằng trí tưởng tượng phong phú và khả năng nắm bắt chi tiết, họ biến những phạm trù ấy trở thành những hình ảnh so sánh, liên tưởng cụ thể. Họ so sánh chiến tranh (mang thông điệp cái chết) như một “cuộc giết người”, “một lao động mệt nhoài”, và liên tưởng hòa bình (mang thông điệp sự sống) như hoạt động “hát”, “phải lòng nhau”, “đặt những lô cuộn tóc”. Một phạm trù siêu hình học như cái chết được miêu tả bằng hình ảnh so sánh rất cụ thể. Các xác chết mặc những chiếc áo lót rằn “như dưa hấu đã mọc lên. Trên một cánh đồng lớn…”; “những người nằm chết dưới đất, đầu họ cạo trọc, và sọ họ màu xanh như những củ khoai tây phơi nắng… Rải rác như những củ khoai tây… Họ nằm trên các luống cày, bị hạ gục giữa khi đang chạy…” Còn khi nói đến sự sống, họ liên tưởng đến những thứ sinh sôi nảy nở như cây trái được mùa. Nhặt được một anh thương binh còn sống khiến họ thấy cuộc đời như “vườn cây ăn quả lớn… Đang ra hoa…”.

Bằng việc xoáy sâu vào cảm giác nội quan, lối viết nữ nhìn nhận chiến tranh như một con quái vật đáng sợ, xâm nhập tất cả giác quan người nữ. Nhưng chiến tranh càng ra sức tước đoạt cảm giác thì người phụ nữ càng kháng cự chính bằng cảm giác: “Tôi không muốn để cho cái mùi đó đi vào trong tôi. Cái mùi sợ. Khi tôi bắt đầu nghĩ về cái chết, tôi thấy mình cực kì cô đơn…”. Cảm xúc với thiên nhiên trở thành cửa ngõ để phụ nữ nhớ về chiến tranh. Tin báo chiến tranh bùng nổ gắn liền với hình ảnh “giọt sương chưa kịp khô trên lá cây”; “sơn ca” trở về bộc lộ niềm khao khát mái ấm bình yên; “hoa dại” nhắc nhớ về chiến tranh vì ở ngoài ấy không có hoa để hái. Trong cuộc chiến một sống một chết, vẫn có cô gái đắm mình trong thiên nhiên, cô hái hoa tím cắm lên lưỡi lê và đứng nghe chim hót trong phiên gác đêm. Thậm chí, chiến tranh đã nhấn tình yêu thiên nhiên trong lòng căm thù. Hình ảnh “anh đào ra hoa” gợi nhắc nỗi căm thù phát xít hoặc vấy lên nó những cảm xúc đối lập: “Mặt trời sáng chói… Tất cả đều ra hoa… Hoa chuông thân yêu của tôi, ngập tràn các bãi cỏ… Tôi nhớ: Chúng tôi nằm giữa lúa mì, một ngày nắng lớn.” Đồng thời, nắm bắt được sự kháng cự của những chi tiết thiên nhiên như màu hoa, mùi thơm, tiếng chim hót giữa màu bùn đất, mùi tanh, mùi khét, tiếng kêu la, vị máu chính là đặc trưng đời sống tâm hồn của những nữ cựu binh Liên Xô thời gian này. Càng nhặt ra nhiều chi tiết nhỏ không ngờ tới, càng đào sâu độ nhạy cảm trong tâm hồn, lại càng làm nổi bật tính chất ác liệt của chiến tranh.

Thế giới qua cái nhìn của người nữ tập hợp một lượng chi tiết vụn vặt khổng lồ. Nhiều năm sau khi chiến tranh đã qua đi, những người nữ cựu binh vẫn nhắc lại một cách tỉ mỉ hàng loạt những chi tiết vụn vặt như chiếc áo, đôi giày, kẹo sôcôla, chiếc khăn lụa, bông hoa…: “Tôi có một chiếc áo dài mới rất nhẹ, có diềm”, “tôi chạy chân không, giày cầm trên tay, đôi giày rất đẹp, tiếc không thể vứt”. Nếu soi chiếu vào lối viết nam, những chi tiết ấy rất ít khi xuất hiện khi kể về chiến tranh. Tuy nhiên, trong lối viết nữ, tất cả những chi tiết vặt vãnh ấy đều có giá trị. Cùng một chi tiết “đôi giày”, Remarque nhấn mạnh đến tính vô dụng của vật chất nếu con người không còn chân để đi, đấy là cách ông bộc lộ tư tưởng phản chiến trong tác phẩm Phía Tây không có gì lạ. Ngược lại, đôi giày với người nữ cựu binh không chứa đựng tư tưởng triết lý mà chứa đựng cảm xúc. Đó là nỗi khao khát được làm đẹp dù trong hoàn cảnh chiến tranh – một nhu cầu nhân văn của phụ nữ.

Một khía cạnh đặc biệt của tấm màn lọc thân thể là chiến tranh được khúc xạ qua các giác quan. Chiến tranh trong ký ức phụ nữ là một thực thể có thể nhìn thấy qua màu sắc: “đối với một người công binh… Đen, vàng, màu đất sét…”. Chiến tranh đi liền với cái chết và cái chết đấy mang màu đỏ rực rỡ nữ tính. Dù có khả năng nhắm bắn bậc thầy, nhưng nữ xạ thủ bắn tỉa đã chết vì mê một chiếc khăn quàng đỏ: “Cái đã phản cô là chiếc khăn quàng đỏ. Cô mê nó. Nhưng một chiếc khăn quàng đỏ thì nổi bật trên tuyết trắng, và cô bị phát hiện”. Thẩm mỹ của chiến tranh đã được tạo nên bởi cuộc hôn phối trong sự đối lập gay gắt giữa tâm hồn nữ tính (màu đỏ) và sự lạnh lùng của cái chết (màu trắng). Khi chiến tranh kết thúc, màu đỏ ấy vẫn rực rỡ, vẫn ám ảnh trong những câu chuyện của những nữ cựu binh. 

Không chỉ là màu, chiến tranh còn là mùi. Cơ thể chiến tranh bốc lên hai mùi đặc trưng khó chịu. Đó là mùi đàn ông: “Trong chiến tranh, không có mùi phụ nữ. Tất cả các mùi đều là nam. Chiến tranh bốc mùi đàn ông” và mùi máu: “tôi nhớ mùi máu trên tuyết đặc biệt gắt”. Khi họ chiêm bao về quá khứ, chiến tranh trong giấc mơ vẫn bốc mùi hôi thối của những hố chôn tập thể, mùi khét xông lên từ những con người bị thiêu sống. Chiến tranh còn là tiếng thét của người dân, tiếng bò rống, tiếng gà kêu, luôn văng vẳng bên tai người nữ du kích: “Tôi có cảm giác tất cả đều thét lên bằng tiếng người. Mọi vật sống. Mọi vật đều cháy và thét lên…”. Trong sự tri giác thế giới của phụ nữ, chiến tranh còn là một thực thể có thể nếm được: “Khi cắt một cánh tay hay một cái chân, không có máu… Ta thấy thịt trắng, rất sạch, sau mới đến máu. Ngày nay vẫn thế, tôi không thể chặt một con gà, nếu thịt nó quá trắng và sạch. Tôi cảm nhận trong miệng vị mặn đau xót”. Cảnh phẫu thuật được miêu tả không phải bằng các bước thực hành y học mà bằng các giác quan. Lối viết nữ đã trộn lẫn vị giác, khứu giác, thị giác thành một cảm xúc “vị mặn đau xót”, chẳng những truyền tải được lòng thương cảm của nữ bác sĩ phẫu thuật, mà còn buộc người đọc phải vận dụng các giác quan để cảm nhận hiện thực sống động đang diễn ra.

Từ những chủ đề đặc trưng đó, phụ nữ dùng cảm giác và cảm xúc của thân thể để miêu tả hiện thực khốc liệt của cuộc chiến. Cuộc hành quân dài đầy khó khăn và mệt mỏi của những nữ cựu binh Liên Xô hiện lên qua nỗi xấu hổ vì có kinh. Nói đến việc lái máy bay, nữ chiến sĩ phòng không không quên cảm giác cơ thể bị ép chặt vào buồng lái; nói đến công việc giặt giũ, cô thợ giặt nhớ đến đôi bàn tay lở loét và rụng móng của mình; nhắc đến sự tàn ác của bọn an ninh Đức, nữ du kích kinh hoàng nhớ lại cảm giác bị lột truồng, cấu xé ngực, bị “sửa móng tay” (bị cỗ máy tra tấn chuyên dụng châm kim vào dưới mười móng tay cùng một lúc). Trải nghiệm thân thể của phụ nữ trong chiến tranh còn là nỗi đau giết con, phải lợi dụng con để làm nhiệm vụ, nỗi nhớ thương đứa con ở nhà và niềm khao khát được làm mẹ. Thân thể phụ nữ trở thành tấm màn lọc mọi sự kiện diễn ra bên ngoài. Sự hiện diện dày đặc các chi tiết miêu tả cảm giác của thân thể giúp cho người đọc hiểu áp lực công việc mà những nữ cựu binh chịu đựng, từ đó hình dung mức độ khốc liệt của chiến tranh. Lối viết thân thể không dừng lại ở việc bộc lộ cảm nhận cơ thể mà còn đưa những yếu tố thuộc về thân thể phụ nữ trở thành biểu tượng. Những lời kể của những nữ chiến sĩ Xô viết lặp đi lặp lại hình ảnh bím tóc và trang phục (giày, áo ngực, váy). Bím tóc và trang phục vừa tượng trưng cho vẻ đẹp thiếu nữ, vừa tượng trưng cho bi kịch đánh mất hình ảnh nữ tính của người lính nữ sau chiến tranh. Chúng gắn liền với nhu cầu thể hiện hình ảnh nữ tính, nhu cầu được làm đẹp và chăm sóc bản thân của họ. Khi đưa hai biểu tượng nữ tính này vào bối cảnh chiến tranh nam tính, lối viết thân thể đã bộc lộ thành công nỗi đau bị tước đoạt hình ảnh nữ tính lẫn niềm khao khát được sống trong cơ thể nữ, từ đó vẽ lên khuôn mặt chiến tranh “nữ” và lên án tính chất phi nghĩa của cuộc chiến từ một góc độ chỉ phụ nữ mới nhìn nhận thấy.

Hai nội dung chính mà Hélène Cixous phân tích cũng là hai mức độ chuyển hóa trong lối viết nữ: từ lời kể cá nhân đến cấu trúc. Đầu tiên, cá nhân người nữ phải trở thành chủ thể ngôn từ tích cực chứ không phải là khách thể tiếp nhận thụ động, vì lối viết nữ phải xuất phát từ thân thể nữ. Ở mức độ thứ hai, khi cá nhân người nữ dùng thân thể để nói/viết thì chính cấu trúc ngôn ngữ sẽ thay đổi. Lúc này, cấu trúc ngôn từ lấy dương vật làm trung tâm sẽ được thay thế bằng một cấu trúc mới phong phú hơn, uyển chuyển hơn. Một tác phẩm như "Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ", với quy mô cực kì lớn của những đối tượng tham gia phỏng vấn, là một sự thể hiện đậm đặc lối viết nữ vì lời trần thuật không chỉ của riêng một nhân vật, một tác giả nữ (vốn chỉ đưa một lượng rất ít lời kể và kinh nghiệm của mình) mà là của chung một cộng đồng nữ. Thế giới trải nghiệm trong tác phẩm là một tự sự nữ, theo cách nói của Hélène Cixous. Như chính tác giả nhận xét, đó là “các câu chuyện thuộc một tính chất khác và nói về những chủ đề khác”, tạo nên “cuộc chiến tranh ‘nữ’ có những màu sắc riêng của nó, những mùi riêng của nó, nguồn chiếu sáng riêng và không gian cảm xúc riêng của nó”. Lối viết nữ biểu hiện qua cách thức tư duy, cách thức tổ chức câu chuyện của những nữ cựu binh. Khi họ kể về chính họ, tái hiện ký ức về cuộc chiến tranh, thì ngay cả ngôn ngữ trong tác phẩm cũng thay đổi so với thứ ngôn từ nam quen thuộc. Đầu tiên, lối viết nữ trong "Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ" biểu hiện ở việc tập trung miêu tả những chủ đề thân thể phụ nữ, từ hành kinh, mang thai, sinh con đến làm đẹp và nỗi đau thể xác – những trải nghiệm thân thể mà các nhà văn nam không thể miêu tả dưới điểm nhìn nội quan.

Khi tác phẩm "Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ" của Svetlana Alexievich xuất hiện dù dưới dạng bị cắt xén vào năm 1985, nó đã trở thành một hiện tượng độc đáo: lần đầu tiên, chiến tranh hiện lên đậm đặc chất nữ tính – giọng nói nữ, tâm hồn nữ, trải nghiệm nữ. Chiến tranh không còn là phép cộng của các con số tổng kết thiệt hại vô cảm, các sự kiện kinh hoàng, các trận đánh ác liệt và các tượng đài anh hùng vũ trang bất diệt trên bàn cờ chính trị các quốc gia. Chiến tranh bây giờ hiện lên qua điểm nhìn của phụ nữ với đầy đủ trải nghiệm, đầy đủ cảm xúc chân thật từ bản năng mãnh liệt, niềm khao khát cháy bỏng, niềm hy vọng mong manh đến nỗi đau đớn thể xác, nỗi sợ hãi tinh thần và sự ám ảnh dai dẳng trong mỗi giấc mơ. Qua lời trần thuật của hơn hàng trăm người phụ nữ, cuốn sách đầu tay của Svetlana Alexievich đã nỗ lực không chỉ viết nên lịch sử tâm hồn phụ nữ Nga trong chiến tranh Vệ quốc, mà còn trở nên một điển hình của lối viết nữ. Lối viết nữ dùng ở đây là lấy theo khái niệm "l'écriture féminine" của Hélène Cixous, đưa ra trong tiểu luận “Tiếng cười của nàng Medusa” công bố năm 1976. Là thành tựu sau một hành trình dài nghiên cứu mối quan hệ giữa giới và ngôn ngữ, tiểu luận của bà đề xuất khái niệm này trong nỗ lực giải kiến tạo hệ thống quan niệm lấy ngôn từ dương vật làm trung tâm. Bà đặt ra không phải là vấn đề ngôn ngữ như một ký hiệu, ngôn ngữ của một cộng đồng người, càng không buộc phụ nữ sáng tạo ra hệ thống ký hiệu mới, mà bà xem lối viết như những cấu trúc, những cách viết, những cánh cửa mở lối khác nhau giữa phái nam và phái nữ. Hélène Cixous diễn giải quan điểm của mình về sự hình thành và đặc trưng của lối viết nữ ở hai nội dung chính. Thứ nhất, “cá nhân người nữ phải viết chính mình, phải khám phá cho riêng mình cơ thể mình cảm thấy như thế nào, và làm sao để viết về thân thể ấy trong ngôn ngữ”. Thứ hai, bằng lối biểu đạt đặc thù, người phụ nữ viết văn sẽ phá vỡ cấu trúc và trật tự những biểu tượng được xác lập và cố định trong diễn ngôn nam giới.